Một số thông tin về chương trình EB-5

Năm 1990, Quốc Hội Hoa Kỳ lập ra hạng mục thường trú nhân dành cho những người đầu tư vào các doanh nghiệp thương mại mang lại lợi ích kinh tế cho Hoa Kỳ và tạo ra tối thiểu mười việc làm toàn thời gian. Mức vốn đầu tư tối thiểu là 1 triệu đô la, nhưng mức vốn này có thể giảm xuống còn tối thiểu 500.000 đô la nếu đầu tư vào “khu vực việc làm mục tiêu”. Hàng năm, Quốc Hội dành ra 10.000 thị thực di trú để cấp cho các nhà đầu tư như trên và thành viên gia đình họ.

Dưới đây là nội dung giải thích tóm lược quy trình đầu tư EB-5 dành cho công dân nước ngoài muốn có được tình trạng thường trú nhân ở Hoa Kỳ. Xin lưu ý rằng đây không phải là lời khuyên có tính pháp lý và không nên được xem là như vậy. Nhà đầu tư EB-5 tiềm năng nên nhờ các chuyên viên tư vấn giàu kinh nghiệm về thuế và pháp lý hỗ trợ trước khi tiến hành đầu tư EB-5.

1. Thủ tục và yêu cầu tổng quát

Luật EB-5 cho phép cấp thị thực di trú cho những ai đến Hoa Kỳ đầu tư vào doanh nghiệp thương mại mới, doanh nghiệp này phải thuộc diện đã được đầu tư hoặc đang trong quá trình triển khai đầu tư số vốn cần thiết vào hoạt động thương mại mới, từ đó mang lại lợi ích cho nền kinh tế Hoa Kỳ và tạo ra việc làm toàn thời gian cho tối thiểu mười người lao động Hoa Kỳ.

Nhà đầu tư phải gửi đơn đăng ký theo Mẫu I-526 cho Sở nhập tịch và di trú Hoa Kỳ (“USCIS”). Khi USCIS phê chuẩn đơn đăng ký này (đơn đăng ký I-526), thì nhà đầu tư và gia đình của họ (vợ/chồng, cũng như các con của họ nếu chưa lập gia đình và dưới 21 tuổi tính đến ngày cấp tình trạng thường trú nhân có điều kiện) có thể tiếp tục gửi đơn đăng ký tình trạng thường trú nhân bằng cách thực hiện các thủ tục tại lãnh sự quán Hoa Kỳ hoặc nếu ở quốc gia của họ thì đến văn phòng USCIS sở tại để “điều chỉnh tình trạng cư trú”.

Quốc Hội Hoa Kỳ quy định rằng tình trạng thường trú nhân ban đầu sẽ thuộc dạng có điều kiện trong khoảng hai năm. Trước khi thời gian hai năm hết hạn, nhà đầu tư đang thường trú có điều kiện phải gửi đơn đăng ký theo Mẫu I-829 tới USCIS để yêu cầu loại bỏ các điều kiện và đổi sang thị thực thường trú vĩnh viễn, từ đó có được tình trạng thường trú nhân. Đơn đăng ký sẽ được phê chuẩn nếu nhà đầu tư chứng minh là họ đã đầu tư đủ số vốn cần thiết, đã đảm bảo duy trì công tác đầu tư trong suốt thời gian hai năm thường trú có điều kiện; ngoài ra, khoản đầu tư của nhà đầu tư phải tạo ra được mười việc làm toàn thời gian mới cho người lao động Hoa Kỳ.

2. Phương pháp đáp ứng các yêu cầu EB-5 đối với nhà đầu tư là cư dân nước ngoài

A.   Thành lập doanh nghiệp thương mại mới

  1. Luật yêu cầu nhà đầu tư – người đăng ký phải đầu tư vào một doanh nghiệp thương mại mới. Doanh nghiệp này phải thực sự “mới”, tức là thành lập sau ngày 29 tháng 11 năm 1990, là ngày mà luật này được ban hành.
  2. Tuy nhiên, nếu nhà đầu tư góp vốn vào một doanh nghiệp đã tồn tại và được thành lập trước ngày 29 tháng 11 năm 1990 thì vẫn có thể được chấp nhận trong ba trường hợp.

B. Tái tổ chức/Tái cấu trúc

  1. Dạng này đòi hỏi phải tái tổ chức hoặc tái cấu trúc doanh nghiệp hiện hữu một cách mạnh mẽ. Mặt khác, USCIS cũng quy định rằng, nếu chỉ thay đổi quyền sở hữu, thay đổi về diện mạo hay vẻ ngoài như là nội thất/ngoại thất trang trí ở nơi kinh doanh hoặc triển khai chiến dịch tiếp thị mới thì sẽ không đủ để được xem là thành lập một doanh nghiệp thương mại mới. Mặt khác, nếu thay đổi hoàn toàn bản chất doanh nghiệp thì rất có khả năng được xem là đủ điều kiện.

C. Mở rộng thêm 40%

  1. Nhà đầu tư có thể đầu tư và mở rộng một doanh nghiệp đã tồn tại, tăng tối thiều bốn mươi phần trăm giá trị thuần của doanh nghiệp hoặc bốn mươi phần trăm số lao động được sử dụng trong doanh nghiệp đó. USCIS có thể yêu cầu bằng chứng dưới dạng tờ khai thuế thu nhập, báo cáo tài chính đã kiểm toán, và tờ khai thuế sử dụng lao động. Các khoản đầu tư nêu trên phải thuộc dạng đầu tư vào doanh nghiệp “thương mại”. Các đơn vị vì-lợi-nhuận được thành lập để tiến hành kinh doanh hợp pháp đều có thể được xem là doanh nghiệp thương mại. Dạng này bao gồm doanh nghiệp cá thể, hợp danh (hữu hạn hoặc vô hạn), công ty mẹ, liên doanh, công ty cổ phần, tín thác thương mại, hoặc các đơn vị thuộc sở hữu công hoặc sở hữu tư khác. Định nghĩa này bao gồm cả công ty mẹ và các công ty con do công ty mẹ sở hữu hoàn toàn, nếu mỗi công ty con thực hiện một hoạt động vì-lợi-nhuận và được thành lập để triển khai kinh doanh hợp pháp. Mặt khác, thuật ngữ “doanh nghiệp thương mại mới” không bao gồm các hoạt động phi thương mại như là sở hữu cơ ngơi riêng.

D. Đầu tư vào một doanh nghiệp gặp khó khăn

  1. Nhà đầu tư có thể đầu tư vào một doanh nghiệp gặp khó khăn, đây là doanh nghiệp đang hiện hữu và lỗ 20% giá trị thuần trong vòng 12 tới 24 tháng gần nhất.

Doanh nghiệp gặp khó khăn/Duy trì việc làm

Có những nguyên tắc đặc biệt dành cho việc đầu tư vào doanh nghiệp “gặp khó khăn”. Doanh nghiệp gặp khó khăn là doanh nghiệp đã tồn tại tối thiểu hai năm, bị lỗ 20% vốn cổ phần theo kiểm toán trong thời gian mười hai đến hai mươi bốn tháng trước khi đơn đăng ký thị thực được gửi, và tổn thất trong khoảng thời gian đó tối thiểu phải bằng hai mươi phần trăm giá trị thuần của doanh nghiệp trước khi lỗ. Nếu đơn đăng ký thị thực thuộc dạng đầu tư vào doanh nghiệp gặp khó khăn, thì nhà đầu tư không cần tạo ra mười việc làm mới. Thay vào đó, đơn đăng ký dựa vào bằng chứng cho thấy doanh nghiệp giữ được việc làm cho người Hoa Kỳ, khi đó, yêu cầu sẽ là khoản đầu tư phải duy trì được hoặc tăng số người lao động trong thời gian thường trú có điều kiện.

Nội dung trên đây giới thiệu những hạng mục được chấp nhận là doanh nghiệp thương mại mới, tuy nhiên, nhà đầu tư còn phải đáp ứng tất cả các yêu cầu như là việc xác định TEA, tạo ra mười việc làm mới và các quy định khác của chương trình EB-5.

c.       Tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp thương mại mới

Luật yêu cầu nhà đầu tư phải tích cực tham gia vào hoạt động của doanh nghệp thương mại mới, nếu thụ động thì sẽ không đủ tiêu chuẩn đăng ký thường trú nhân theo hạng mục thị thực này. Nhà đầu tư phải tham gia vào công tác kiểm soát doanh nghiệp thương mại đó, hoặc quản lý doanh nghiệp bằng cách lập ra các chính sách hoạt động. Quy định của USCIS nêu rằng nếu nhà đầu tư là cán bộ của công ty hoặc tham gia hội đồng thành viên, hoặc nhà đầu tư là đối tác hữu hạn trong doanh nghiệp có dạng hợp danh hữu hạn với các quyền lợi và trách nhiệm điển hình như quy định tại các điều khoản của Luật hợp danh hữu hạn thống nhất, thì sẽ đáp ứng các yêu cầu về việc tham gia vào công tác quản lý doanh nghiệp thương mại mới. USCIS cũng quy định rằng nhà đầu tư phải thực sự tham gia quản lý chứ không chỉ đảm nhiệm chức danh. Hợp danh hữu hạn là dạng doanh nghiệp thương mại mới phổ biến nhất. Ngoài ra, CMB cũng khuyến khích nhà đầu tư nào là cư dân nước ngoài thì phải nghiên cứu cẩn thận trước khi triển khai khoản đầu tư vào Trung tâm khu vực nào đó. Ngoài ra, nếu tham gia vào Hợp danh hữu hạn, nhà đầu tư nên giám sát hoạt động của Trung tâm khu vực.

2. Đầu tư vốn

Luật yêu cầu nhà đầu tư – người đăng ký phải thuộc dạng đã đầu tư hoặc đang trong quá trình đầu tư số vốn cần thiết. Yêu cầu này bao gồm một số yếu tố cần được cân nhắc riêng. Lưu ý: Mặc dù luật cho phép dạng “trong quá trình đầu tư”, CMB cho rằng dạng này rất nguy hiểm. CMB yêu cầu nhà đầu tư phải góp đủ số vốn cần thiết vào doanh nghiệp thương mại mới thì mới được công nhận là đối tác của hợp danh hữu hạn. CMB đã thấy nhiều người đăng ký và các Trung tâm khu vực nói rằng họ đang “trong quá trình đầu tư”, và kết quả là cơ cấu đầu tư của họ bị từ chối.

c.       Số tiền vốn

Số vốn yêu cầu tối thiểu là 1 triệu đô la. Số vốn này được giảm xuống còn tối thiểu 500.000 đô la nếu đầu tư vào các “khu vực việc làm mục tiêu” (TEA), các khu vực đó đang chịu tỉ lệ thất nghiệp bằng tối thiểu 150 phần trăm mức trung bình toàn quốc (và phải có dữ liệu thống kê cho thấy khu vực đó thực sự có mức thất nghiệp là 150% trở lên so với mức thất nghiệp toàn quốc hoặc khu vực đó được phân loại là nông thôn). Một “khu vực nông thôn” là khu vực không nằm trong diện tích được thống kê là đô thị hoặc vùng ven của thành phố hoặc thị trấn nào đó có dân số là 20.000 trở lên. Công tác đánh giá xem khoản đầu tư có được thực hiện vào khu vực việc làm mục tiêu hay không sẽ dựa vào thông tin thống kê tại thời điểm đầu tư, và dựa vào nơi mà doanh nghiệp hoạt động kinh doanh chính.

b. Vốn cổ phần

“Đầu tư” nghĩa là góp vốn cổ phần hoặc tiền vốn vào doanh nghiệp. Nhà đầu tư cá nhân không được nhận trái phiếu, tín phiếu, hoặc các khế ước nợ từ doanh nghiệp khi họ góp vốn. Về mặt này, nhà đầu tư cũng không được mua nhà hoặc căn hộ cư trú vì các dạng này cũng bị cấm. Kể cả các chứng khoán có thể hoàn trả theo yêu cầu người sở hữu cũng không được tính. Các cam kết đảm bảo hoàn trả và bồi thường cũng bị USCIS phân loại là khế ước nợ không được phép thực hiện. Ngoài ra, những khoản đảm bảo mà người đăng ký cho doanh nghiệp vay dưới dạng nợ cơ bản cũng sẽ không được xem là khoản đầu tư vốn cổ phần của người đăng ký đó.

c. Loại vốn

“Vốn” có thể bao gồm tiền mặt hoặc các dạng tương đương tiền, trang thiết bị, hàng tồn kho, và các tài sản hữu hình khác. Mặc dù vốn không bao gồm các khoản mà người đăng ký cho doanh nghiệp vay, nhưng phần góp vào doanh nghiệp dưới dạng tiền lãi từ các khoản nợ trên tài sản mà nhà đầu tư sở hữu có thể được xem là vốn, với điều kiện nhà đầu tư đích thân chịu trách nhiệm cơ bản về khoản nợ đó, và tài sản doanh nghiệp làm cơ sở đăng ký phải không được dùng để bảo đảm cho khoản nợ nào đó. Khoản cho vay cũng phải thỏa mãn yêu cầu kiểm nghiệm về tính khả thi thương mại.

Ngoài ra, kỳ phiếu của nhà đầu tư với doanh nghiệp – dưới dạng cam kết hiện tại để góp tiền mặt cho doanh nghiệp trong tương lai – có thể được xem là vốn trong một số trường hợp nhất định, khi đó kỳ phiếu được bảo đảm bằng tài sản của người đăng ký, nợ là phần lãi đảm bảo toàn phần, và kỳ phiếu được định giá theo giá trị thị trường hợp lý của đồng đô la Mỹ vào thời điểm nó được góp cho doanh nghiệp. Việc định giá kỳ phiếu đòi hỏi phải cân nhắc giá trị của tài sản đảm bảo cho kỳ phiếu đó, khả năng chuyển đổi tài sản khi tịch biên, và chi phí thi hành cưỡng chế pháp lý từ bên ngoài nếu cần thiết. Nhà đầu tư cũng có thể sử dụng danh mục thanh toán hoặc kỳ phiếu làm bằng chứng là “đang trong quá trình đầu tư” số vốn cần thiết, tuy nhiên, USCIS yêu cầu việc chi trả số vốn cần thiết tối thiểu phải kết thúc một cách hoàn chỉnh trước khi thời hạn hai năm thường trú có điều kiện chấm dứt.

Lưu ý: như đã đề cập trên trang web, các dự án áp dụng cơ cấu chi trả dần dần trong quá trình đầu tư đang thuộc diện gây tranh cãi rất nhiều đối với USCIS, và trong thời gian vừa qua, CMB đã thấy nhiều dự án có cơ cấu dạng này bị từ chối.

d. Tài khoản ký thác

Nhà đầu tư có thể sử dụng tài khoản ký thác để góp tiền cho doanh nghiệp khi tình trạng thường trú nhân có điều kiện hoặc đơn đăng ký theo mẫu I-526 được phê chuẩn. Tuy nhiên, USCIS khuyến khích tài khoản ký thác góp tiền trực tiếp vào tài khoản của doanh nghiệp để tạo công ăn việc làm. Tiền vốn ký thác thuộc dạng không thể hủy ngang; USCIS cũng nói rằng tài khoản ký thác là không bắt buộc mà chỉ là dạng giới hạn tự tạo và tiền vốn ký thác chờ phê chuẩn I-526 cũng không được USCIS xem là bằng chứng khó khăn tài chính hợp chuẩn để được ưu tiên xử lý hồ sơ nhanh hơn.

e. “Có rủi ro”

USCIS yêu cầu có bằng chứng cho thấy vốn đầu tư “có rủi ro”. USCIS tập trung vào cách sử dụng vốn trên thực tế và theo dự kiến để xác nhận là vốn sẽ được chi tiêu theo đúng kế hoạch kinh doanh hoàn chỉnh đã đăng ký trong hồ sơ hợp danh. Hơn nữa, USCIS sẽ kiểm duyệt hồ sơ đăng ký để xác minh rằng tất cả số vốn EB-5 (1 triệu đô la hoặc 500.000 đô la nếu phù hợp) sẽ được sử dụng để tạo công ăn việc làm sinh ra lợi nhuận. USCIS không chỉ yêu cầu góp tiền vào một tài khoản kinh doanh, mà còn yêu cầu bằng chứng cho thấy nhà đầu tư thực sự đảm nhiệm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. USCIS đã nêu rằng việc sử dụng vốn cho các khoản chi tiêu của hợp danh và tài khoản dự phòng, cũng như các dạng tương tự, là không liên quan tới công tác tạo công ăn việc làm và sẽ loại trừ phần vốn đó khi tính toán số tiền mà người đăng ký đầu tư.

f. Điều tra và nguồn gốc hợp pháp

Luật yêu cầu bằng chứng cho thấy người đăng ký đã đầu tư đủ số vốn yêu cầu. Ngoài ra, luật cũng yêu cầu số vốn đó phải đến từ nguồn vốn hợp pháp. Do vậy, nhà đầu tư – người đăng ký sẽ phải đưa ra bằng chứng cho thấy nguồn vốn đầu tư vào doanh nghiệp thương mại mới có nguồn gốc từ chính người đăng ký.

Hơn nữa, USCIS cũng yêu cầu người đăng ký đưa ra bằng chứng cho thấy nguồn đầu tư số vốn là nguồn hợp pháp. Quy định cũng nêu rõ yêu cầu về bằng chứng như là tờ khai thuế thu nhập trong năm năm gần nhất. USCIS cũng yêu cầu bằng chứng về mức thu nhập của nhà đầu tư hoặc các bằng chứng khác để chứng minh nhà đầu tư có nguồn hợp pháp đủ để cung cấp số vốn đầu tư. Nếu nhà đầu tư có được số tiền đó từ quà tặng hay các khoản nợ, thì sẽ cần thêm bằng chứng về sự minh bạch và thành thật của người trao quà hoặc người cho vay. Người đăng ký và người đã “Tặng” số tiền sẽ phải chứng minh các thông tin này. Với trường hợp “Khoản vay dựa trên tiền được cho vay”, USCIS sẽ yêu cầu khoản vay phải đáp ứng các yêu cầu đối với khoản vay được chấp nhận về thương mại.

3. Mang lại lợi ích kinh tế cho Hoa Kỳ

Khoản đầu tư phải “mang lại lợi ích cho nền kinh tế Hoa Kỳ” thì nhà đầu tư mới hợp chuẩn để có tình trạng thường trú nhân. Thực chất, người đăng ký đã mang lại lợi ích kinh tế khi họ đáp ứng yêu cầu về đầu tư và tạo công ăn việc làm theo phân loại thị thực. Cho đến hiện tại, các trường hợp điển hình đều không cần bằng chứng nào khác. Tuy nhiên, nếu xét rằng các quy định của liên bang về đầu tư nước ngoài là rất rộng (ví dụ, về hàng không, ngân hàng, truyền thông và nguồn năng lượng) cũng như xét rằng các yếu tố kinh tế cục bộ khác nhau rất nhiều, thì có thể một khoản đầu tư sẽ không được xem là mang lại lợi ích kinh tế cho Hoa Kỳ nếu thực hiện trong phân khúc công nghiệp đã bão hòa hoặc trong khu vực kinh tế có nhiều biến động như mạng lưới năng lượng chẳng hạn. Luật yêu cầu khoản đầu tư phải làm gia tăng năng suất, sản lượng của vùng được đầu tư. Nhà đầu tư cần đảm bảo khoản đầu tư thực hiện được điều này vì USCIS không ngừng tăng cường số lượng các quy định cũng như thi hành luật kiểm soát.

4. Tạo hoặc giữ việc làm

Nhà đầu tư phải tạo việc làm toàn thời gian cho tối thiểu mười công dân Hoa Kỳ, thường trú nhân hợp pháp hoặc các cư dân di trú khác được quyền làm việc một cách hợp pháp tại Hoa Kỳ. Nhà đầu tư, vợ hoặc chồng và con cái họ không được tính vào số lượng tối thiểu mười người lao động. Những người không thuộc dạng di trú (như là người có thị thực E, H, L hoặc thi thực lao động tạm thời khác) cũng không được tính. “người lao động” là một cá nhân mang lại dịch vụ hoặc lao động cho doanh nghiệp thương mại mới, và nhận lương hoặc thù lao dạng khác một cách trực tiếp từ doanh nghiệp thương mại mới. Định nghĩa này không bao gồm nhà thầu độc lập. Trong Chương trình trung tâm khu vực dành cho nhà đầu tư, số việc làm được tạo không chỉ tính trên số nhân viên của doanh nghiệp thương mại mới, mà còn có thể qua bằng chứng về số việc làm gián tiếp được xuyên suốt nền kinh tế. Nhiều nhà kinh tế bày tỏ luận điểm về công tác tạo việc làm và theo đó, USCIS từ chối các đơn đăng ký chỉ vì phương pháp chứng tỏ số việc làm trong đơn là không thể xác minh được. Nhà đầu tư tiềm năng nên nghiên cứu kỹ phương pháp mà các Trung tâm khu vực sử dụng vì nếu tạo ra được việc làm thì có nghĩa là thành công, và ngược lại, nếu không thể chứng minh số việc làm đã tạo thì sẽ thất bại, và người đăng ký, khi thất bại, sẽ bị đưa sang quy trình loại bỏ. Đó là lý do CMB nhấn mạnh công tác tạo việc làm là yếu tố quan trọng nhất khi cân nhắc Trung tâm khu vực EB-5.

c.       Loại việc làm

Công việc tạo ra phải là toàn thời gian, tức là, đòi hỏi tối thiểu ba mươi lăm giờ làm việc mỗi tuần; công việc bán thời gian không được tính. Tuy nhiên, các cơ cấu dạng chia sẻ, trong đó hai hoặc nhiều nhân viên hợp chuẩn chia sẻ một vị trí toàn thời gian, thì được tính.

b. Khi nào phải có việc làm

Người đăng ký có thể gửi đơn theo mẫu I-526 kèm theo bằng chứng cho thấy đã tạo ra số việc làm cần thiết, hoặc bằng chứng cho thấy số việc làm cần thiết sẽ được tạo trước khi thời gian hai năm thường trú có điều kiện kết thúc. Trong mỗi trường hợp, nhà đầu tư phải gửi đơn I-526 kèm theo kế hoạch kinh doanh hoàn chỉnh mô tả cách tạo ra tối thiểu mười việc làm trước khi kết thúc thời gian thường trú có điều kiện. Kế hoạch kinh doanh này phải mô tả doanh nghiệp, sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp, phải có phân tích tiếp thị, bao gồm nội dung phân tích sản phẩm và mức giá của đối thủ cạnh tranh, phải bao gồm chiến lược tiếp thị, xác định cơ cấu tổ chức và kế hoạch cụ thể về thuê mướn nhân viên, và phải cung cấp dự thảo tài chính.

  1. Doanh nghiệp gặp khó khăn/Duy trì việc làm

Có những nguyên tắc đặc biệt dành cho việc đầu tư vào doanh nghiệp “gặp khó khăn”. Doanh nghiệp gặp khó khăn là doanh nghiệp đã tồn tại tối thiểu hai năm, bị lỗ 20% vốn cổ phần theo kiểm toán trong thời gian mười hai đến hai mươi bốn tháng trước khi đơn đăng ký thị thực được gửi, và tổn thất trong khoảng thời gian đó tối thiểu phải bằng hai mươi phần trăm giá trị thuần của doanh nghiệp trước khi lỗ. Nếu đơn đăng ký thị thực thuộc dạng đầu tư vào doanh nghiệp gặp khó khăn, thì nhà đầu tư không cần tạo ra mười việc làm mới. Thay vào đó, đơn đăng ký dựa vào bằng chứng cho thấy doanh nghiệp giữ được việc làm cho người Hoa Kỳ, khi đó, yêu cầu sẽ là khoản đầu tư phải duy trì được hoặc gia tăng thêm số người lao động trong thời gian thường trú có điều kiện.

c. Trung tâm khu vực/Việc làm gián tiếp

Để khuyến khích di trú qua hình thức đầu tư, và để tập trung đầu tư vào các khu vực cụ thể, Quốc hội đưa ra Chương trình thí điểm năm 1993, chỉ đạo USCIS dành riêng một số thị thực cho những người đầu tư vào “Trung tâm khu vực” được chỉ định. Chương trình thí điểm, ngày nay được biết với tên gọi Chương trình trung tâm khu vực, hiện tại đặt ra 10.000 thị thực hàng năm. Chương trình trung tâm khu vực không yêu cầu doanh nghiệp thương mại phải thực sự sử dụng mười lao động Hoa Kỳ mới, nếu nhà đầu tư có thể đưa ra bằng chứng hợp lý cho thấy khoản đầu tư đã tạo ra mười việc làm trực tiếp hoặc gián tiếp trở lên. Cho tới ngày nay, USCIS đã chỉ định hơn 700 Trung tâm khu vực trên khắp đất nước.

Một điểm đáng lưu ý về sự phát triển của các Trung tâm khu vực là trong năm 2007 chỉ có 11 Trung tâm khu vực và chỉ có 5 cho tới 6 trong đó là hoạt động (CMB là một trong số các trung tâm hoạt động tích cực như vậy).

5. Tình trạng thường trú nhân có điều kiện

Nhà đầu tư sẽ có được tình trạng thường trú nhân có điều kiện, mặc dù dạng này gọi là “thường trú nhân”, cần lưu ý là nó có điều kiện. Các quyền lợi, quyền hạn, trách nhiệm và nghĩa vụ áp dụng cho tất cả các thường trú nhân hợp pháp khác, bao gồm quyền được đến và sinh sống với tư cách là công dân Hoa Kỳ, được đăng ký tự nhiên hóa và được đăng ký cho người thân hợp chuẩn, đều được áp dụng đối với thường trú nhân có điều kiện. Nhà đầu tư phải đăng ký loại bỏ các điều kiện trong vòng chín mươi ngày trước khi hết năm thứ hai tính từ ngày có tình trạng thường trú nhân.

Trong thời gian thường trú có điều kiện của nhà đầu tư EB-5 đăng ký tình trạng thường trú nhân, có một yêu cầu về thường trú. Cũng như với các thường trú nhân khác, nhà đầu tư nên xây dựng gia đình và các mối liên hệ kinh tế với Hoa Kỳ và phải cẩn thận, lưu ý để không rời Hoa Kỳ trong thời gian quá 180 ngày, trừ khi nhà đầu tư có giấy phép khứ hồi. Khi loại bỏ các điều kiện trên Thị thực, thì không còn yêu cầu khó khăn nào về thường trú hàng năm với nhà đầu tư nữa. Tuy nhiên, nếu người được cấp thị thực rời khỏi Hoa Kỳ trong thời gian dài hơn một năm, thì sẽ có khả năng bị tước thị thực thường trú nhân. Do đó, nhà đầu tư cần lưu ý là có các giới hạn nhất định và nên nhờ luật sư di trú tư vấn.

6. Lọai bỏ các điều kiện

Trong vòng chín mươi ngày trước khi kết thúc năm thứ hai tính từ khi có được tình trạng thường trú nhân có điều kiện, nhà đầu tư di trú phải gửi đơn đăng ký theo Mẫu I-892 để loại bỏ các điều kiện. Đơn đăng ký phải kèm theo các bằng chứng cho thấy người đăng ký đã đầu tư hoặc đang trong quá trình đầu tư số vốn cần thiết, cho thấy doanh nghiệp và khoản đầu tư được duy trì xuyên suốt thời gian hai năm có điều kiện, và cho thấy nhà đầu tư đã tạo ra hoặc sẽ có thể tạo ra mười công việc toàn thời gian trong khoảng thời gian hợp lý. USCIS sẽ gửi thông báo cho người đăng ký khi họ nhận đơn đăng ký I-829. Thông báo nhận đơn I-829 thường có hiệu lực trong thời gian một năm, và có thể được sử dụng làm chứng từ đi lại. Sau đó, nếu I-829 vẫn đang chờ giải quyết, thì nhà đầu tư phải được đóng dấu lên hộ chiếu để ghi nhận là tình trạng hợp pháp vẫn còn, cho tới khi các điều kiện thường trú được loại bỏ.

a. Không gửi đơn I-829

Nếu nhà đầu tư không gửi đơn I-829 kịp thời thì tình trạng thường trú nhân có điều kiện của họ sẽ bị hủy và thủ tục trục xuất khỏi quốc gia sẽ bắt đầu. Việc này, đáng lưu ý là, sẽ vô hiệu hóa thị thực thường trú nhân có điều kiện của người đăng ký.

b. Xem xét đơn I-829

Trung tâm dịch vụ USCIS có thể phê chuẩn đơn I-829 mà không cần yêu cầu thông tin gì thêm, hoặc cũng có thể yêu cầu bằng chứng bổ sung, hoặc từ chối đơn đăng ký.

Trung tâm dịch vụ USCIS có thể phê chuẩn đơn I-829 nếu đơn đăng ký thỏa mãn các yêu cầu để loại bỏ các điều kiện thường trú, như tóm lược bên trên. Nếu được phê chuẩn, giám đốc trung tâm dịch vụ sẽ loại bỏ các điều kiện trên tình trạng thường trú nhân có điều kiện tính đến ngày kết thúc thời gian hai năm sau khi người đăng ký được phê chuẩn tình trạng thường trú nhân có điều kiện. Nội dung thông báo phê chuẩn có thể yêu cầu thường trú nhân có điều kiện phải báo cáo cho văn phòng quận của USCIS để tiến hành làm thẻ thường trú nhân mới (Mẫu đơn I-551). Tại văn phòng quận, hộ chiếu chưa quá hạn của thường trú nhân có thể được đóng dấu I-551 dạng tạm thời với hiệu lực tối đa mười hai tháng.

Giám đốc văn phòng quận sẽ từ chối đơn I-829 nếu đơn không đáp ứng được các yêu cầu loại bỏ các điều kiện. Quyết định này không thể được phúc thẩm. Thất bại lớn nhất thường gặp với đơn I-829 là không thể chứng minh đã tạo mười việc làm mới cho người Hoa Kỳ. Một lần nữa, CMB xin nhấn mạnh chương trình này không hẳn là phương tiện đầu tư, mà là chương trình tạo việc làm. Hãy chọn Trung tâm khu vực đã từng đạt được phê chuẩn I-829 cho nhà đầu tư của họ. Ngoài ra, cần đảm bảo Trung tâm khu vực không thay đổi dữ liệu để khai khống tỉ lệ thất nghiệp cao vì nếu làm như vậy thì USCIS sẽ áp dụng nguyên tắc yêu cầu đầu tư 1 triệu đô la, mà dạng đầu tư đang đề cập chỉ góp ở mức 500.000 đô la nên sẽ là chưa đủ. Thường trú nhân có điều kiện có thể nhờ tòa án di trú xem xét các quyết định về thủ tục loại bỏ của giám đốc văn phòng quận.

c. Tình trạng thường trú nhân có điều kiện trong khi đang chờ phê chuẩn đơn I-829

Nhà đầu tư di trú và các thành viên trong gia đình họ sẽ vẫn thuộc diện thường trú nhân có điều kiện khi đơn I-829 đang chờ phê chuẩn. Tình trạng này sẽ tự động được gia hạn một năm cho tới khi USCIS xử lý đơn I-829. Trong thời gian này, nhà đầu tư và các thành viên gia đình được phép ra nước ngoài và làm việc tại Hoa Kỳ. Trong thực tế, USCIS sẽ đóng dấu trên hộ chiếu của nhà đầu tư và các thành viên gia đình hợp chuẩn của nhà đầu tư để ghi nhận tình trạng thường trú vẫn còn hợp pháp. Trên thực tế ngày nay, đơn I-829 được xử lý trong khoảng 5 đến 7 tháng, theo thông tin đăng tại trang web của USCIS tính đến ngày 30 tháng 6 năm 2014.