Hỏi & Đáp về EB-5 cho các Dự án EB-5 tiềm năng

1. TEA là gì và khoản đầu tư 500 nghìn đô la khác khoản đầu tư 1 triệu đô la như thế nào?

TEA (Khu vực việc làm mục tiêu) là khu vực địa lý/địa chính trị được xác định là có tỉ lệ thất nghiệp bằng hoặc trên 150% tỉ lệ trung bình của cả nước hoặc là khu vực nông thôn không nằm trong Khu vực thống kê đô thị (MSA) với dân số dưới 20.000. Số tiền cơ bản mà nhà đầu tư nước ngoài phải đầu tư, theo yêu cầu của chương trình EB-5, là 1 triệu đô la. Số tiền này chỉ còn 500.000 đô la nếu đầu tư vào Khu vực việc làm mục tiêu (TEA). Nhiều khi TEA là khu vực lớn bằng cả một quận hạt, nhưng cũng có khi chỉ là vùng đất nhỏ bằng diện tích điều tra dân số. Trong mọi trường hợp, nếu nằm trong Khu vực thống kê đô thị (MSA) và không là nông thôn, thì TEA phải đi kèm đầy đủ dữ liệu chứng minh tỉ lệ thất nghiệp thực sự là 150% so với trung bình cả nước. Nếu chỉ có thư xác nhận của tiểu bang thì không đủ, phải có dữ liệu chứng minh. Hỏi: Hiện tại, Hoa Kỳ đang có bao nhiêu dự án 1 triệu đô la? Đáp: Gần như không có! (CMB có một, và có một dự án khác đang dự tính) Tại sao? Phải chăng toàn bộ Hoa Kỳ là khu vực thất nghiệp cao? Đương nhiên không phải. Một số Trung tâm khu vực đang ăn gian chương trình EB-5. Cẩn trọng: Ở giai đoạn I-829, quý vị có thể được hỏi là có đầu tư như yêu cầu vào đúng khu vực hay không! Xin hãy chuẩn bị và đảm bảo Trung tâm khu vực không lợi dụng hệ thống.

2. Nếu vay từ CMB, thì yêu cầu (trách nhiệm) mà bên vay phải đảm bảo để tuân thủ chương trình EB-5 là gì?

Về việc tham gia EB-5, Bên vay không phải chịu trách nhiệm, nghĩa vụ, hoặc yêu cầu gì đối với bất kỳ nhà đầu tư riêng lẻ nào cả. Bên vay chỉ có trách nhiệm đảm bảo các điều khoản trong thỏa thuận cho vay. Các điều khoản của thỏa thuận cho vay nêu là Bên vay phải sử dụng tiền thu từ khoản cho vay vào các khoản hợp lý của dự án như xác định trong thỏa thuận cho vay và thư ủy quyền gây vốn. Bên vay cũng cần cung cấp chứng từ cho thấy thực sự đã chi tiền vào việc thi công hoặc cung cấp các chứng từ khác mà Bên cho vay chấp nhận được. Chứng từ dùng để chứng minh công tác tạo việc làm có thể bao gồm báo cáo tài chính tổng quát, hóa đơn, hợp đồng xây dựng và các tài liệu tương tự.

Đôi lời về công tác tạo việc làm:

Chúng tôi nhận thấy yêu cầu căn bản của chương trình EB-5 là mỗi nhà đầu tư cần chứng minh khoản đầu tư của họ đã tạo ra 10 việc làm toàn thời gian mới cho lao động Hoa Kỳ. Những việc làm như vậy có thể thuộc dạng trực tiếp hoặc gián tiếp. Việc làm trực tiếp là trường hợp có người lao động/người sử dụng lao động như truyền thống; việc làm gián tiếp và phát sinh là việc làm được tạo ra khi người lao động trực tiếp sử dụng số tiền họ vừa kiếm được vào nền kinh tế hoặc các khi có các hoạt động kinh tế khác diễn ra trong khoản đầu tư như các khoản chi tiêu thi công. Mô hình đầu tư CMB dựa trên phương pháp tạo việc làm gián tiếp và phát sinh nhờ chi tiêu thi công. Có nhiều dạng tạo việc làm khác được dùng ở giai đoạn I-829 như là việc làm thi công trực tiếp kéo dài 2 năm, việc làm theo giai đoạn, việc làm trực tiếp và việc làm được tạo ra khi phát sinh doanh thu. Từ trước đến nay, chúng tôi sử dụng những nguồn việc làm như vậy làm bộ đệm ở hạng mục việc làm “phụ trội”. Sử dụng phương pháp này, chúng tôi có thể chứng minh là việc làm gián tiếp và phát sinh sẽ được tạo ra ngay khi tiền được chi tiêu. Thêm nữa, việc làm gián tiếp và phát sinh cũng đáp ứng tất cả các yêu cầu đặt ra cho nhà đầu tư EB-5. Thời gian thi công và khoản chi tiêu thi công sẽ quyết định thời gian và phạm vi mà khoản vốn của nhà đầu tư EB-5 phát huy tác dụng. Một trong những lợi ích quan trọng nhất khi đầu tư vào trung tâm khu vực là có thể dùng phương pháp tạo việc làm gián tiếp và phát sinh khi cần chứng minh yêu cầu tạo việc làm cho nhà đầu tư EB-5. Nếu khoản đầu tư không thông qua trung tâm khu vực EB-5 thì sẽ chỉ được dựa vào việc làm trực tiếp trong doanh nghiệp cụ thể được đầu tư.

3. CMB bắt đầu gây vốn vào thời điểm nào?

CMB sẽ bắt đầu gây vốn (giả định là đã chuẩn bị xong toàn bộ hồ sơ) dựa trên thời gian tạo việc làm trong từng dự án cụ thể. Khoản đầu tư EB-5 không có nhiều khung thời gian dùng để chứng minh khả năng tạo việc làm. Chúng tôi sẽ phải khớp thời gian chi tiêu thi công với nỗ lực cấp vốn của mình, nhưng khả năng CMB gây được vốn lệ thuộc rất nhiều vào chất lượng khoản đầu tư và khả năng khoản đầu tư đáp ứng mục tiêu của nhà đầu tư EB-5. Trong các hợp danh trước đây, chúng tôi từng gây vốn 90 triệu đô la thành công chỉ trong 32 ngày. Trong mọi trường hợp, chúng tôi sẽ cần thông tin và chứng từ cụ thể, bao gồm: chi tiết và lịch trình dự án, quyền gây vốn, thỏa thuận cho vay và nhiều thứ khác thì mới có thể đạt được mục tiêu của cả Bên cho vay và Bên vay. Quy trình phát triển thường bắt đầu với sự cho phép gây vốn, rất nhiều tài liệu về dự án, thương lượng về tài sản thế chấp, thỏa thuận cho vay liên đới, đảm bảo doanh nghiệp, đảm bảo dự án và nhiều thứ khác, cuối cùng phải có thỏa thuận cho vay mang chữ ký của các bên.

Ngoài ra, phải tập hợp đẩy đủ hồ sơ hợp danh và nhà đầu tư phải đọc và hiểu khoản đầu tư.

4. CMB nhận được khoản bồi thường như thế nào?

Vai trò của CMB cũng tương tự như các đơn vị cho vay tài chính khác. Một phần doanh thu của chúng tôi đến từ lãi suất mà bên vay trả cho khoản cho vay từ hợp danh đầu tư CMB.

Hỏi. Các loại chi phí liên quan đến việc vay vốn được xử lý thế nào?

Chi phí sẽ được xác định theo từng dự án riêng biệt. Chi phí mà CMB thu từ bên vay có thể bao gồm phí chuẩn bị hồ sơ và phí ban đầu. Bên vay không phải thanh toán bất kỳ chi phí nào khác liên quan đến pháp lý hoặc tiếp thị cho CMB. Bên vay có trách nhiệm thanh toán chi phí pháp lý của riêng họ (bao gồm chi phí cố vấn pháp lý) nếu thấy cần thiết trong quy trình chuẩn bị và xem xét tài liệu đảm bảo và đầu tư.

5. Quý vị đang tìm kiếm loại dự án nào?

CMB đã, đang và sẽ tiếp tục tập trung vào các dự án liên quan đến cơ sở hạ tầng dựa trên các dự án liên quan đến xây dựng cơ bản (dọc hoặc ngang). Chúng tôi cũng tìm kiếm các dự án có hợp danh công tư. Hầu hết các dự án phải cho thấy sẽ có thể tạo ra việc làm trong khung thời gian phù hợp với giai đoạn thường trú có điều kiện của đối tác hữu hạn của hợp danh.

6. Quý vị có thể thực hiện dự án lớn đến đâu? (Quy mô nào)

Tỉ lệ giữa vốn đầu tư CMB và vốn bên ngoài sẽ quyết định giới hạn năng lực cho vay của chúng tôi, điều này có liên hệ với khả năng tạo việc làm. Cũng có các giới hạn dựa trên khả năng Bên vay sử dụng khoản nợ và hoàn trả khoản cho vay khi đáo hạn. Tuy nhiên, chúng tôi tin là sẽ có thể tập hợp số vốn EB-5 đáng kể (hàng trăm triệu) nếu khoản đầu tư là ổn định, chứng minh được các khoản chi tiêu thi công đủ tiêu chuẩn khớp với số tiền yêu cầu cho vay và thể hiện khả năng sử dụng khoản nợ cũng như khả năng hoàn trả tiền gốc trong khung thời gian của khoản cho vay đầu tư EB-5.

7. Quý vị đang tìm kiếm dạng vốn cổ phần hay là dạng cho vay?

Các khoản đầu tư EB-5 CMB từ trước đến nay thuộc dạng dựa trên khoản cho vay. Điều này không có nghĩa là chúng tôi sẽ không cân nhắc các khoản đầu tư vốn cổ phần có cấu trúc hợp lý. Nhưng các khoản đầu tư vốn cổ phần sẽ vẫn phải chứng minh khả năng đạt được mục tiêu của nhà đầu tư EB-5 CMB.

8. Thời hạn (sự kéo dài) của khoản đầu tư là bao lâu và bắt đầu vào thời điểm nào?

Tất cả các khoản cho vay đầu tư CMB từ trước đến nay đều kéo dài sáu năm. Bên vay cần phải thanh toán lãi suất theo từng quý dựa trên số tiền cho vay đã ứng trước. Khoản cho vay cũng có số tiền gốc cần phải được thanh toán khi đáo hạn. Thời hạn sáu năm của khoản cho vay CMB giúp bên vay có thời gian xây dựng cơ sở hạ tầng mới và phát triển dòng doanh thu ổn định. Thời hạn sáu năm của khoản cho vay bắt đầu khi số vốn cuối cùng được gửi cho bên vay.

Hỏi. Tôi có thể thanh toán sớm mà không chịu phạt không? Sớm như thế nào?

Mục tiêu quan trọng nhất của nhà đầu tư EB-5 là có được tình trạng thường trú nhân tại Hoa Kỳ. Để đạt được mục tiêu này, họ phải gửi đơn I-829 chứng minh là đã (1) đầu tư đầy đủ số tiền vốn như yêu cầu (1 triệu đô la hoặc 500 nghìn đô la) và có rủi ro và (2) tạo ra mười việc làm mới cho lao động Hoa Kỳ. Thỏa thuận cho vay đầu tư CMB có các điều khoản không cho phép hoàn trả trong 42 tháng đầu tiên. Chúng tôi tin rằng điều này sẽ mang lại khoảng thời gian hợp lý để nhà đầu tư đạt được mục tiêu di trú của họ. Sau thời kỳ 42 tháng này, Bên vay có quyền hoàn trả sớm số tiền cho vay mà không bị phạt.