Thị thực EB-5 là gì

Nhiều quốc gia trên thế giới có chương trình đầu tư di trú. Các chương trình thành công nhất hiện nay thuộc dạng này được triển khai ở Australia, Vương quốc Anh, và Hoa Kỳ. Canada từng là quốc gia thành công nhất về khả năng thu thập tiền đầu tư; nhưng gần đây, nhiều phần trong chương trình đã đóng cửa. Chương trình đầu tư di trú của Hoa Kỳ gọi là chương trình EB-5, viết ngắn gọn từ: Ưu tiên thứ 5 dựa trên việc làm. Nhà đầu tư di trú nếu thành công trong chương trình này sẽ được cấp thị thực Hoa Kỳ vĩnh viễn (thẻ xanh hoặc thẻ vĩnh viễn cho bản thân họ và các thành viên phù hợp trong gia đình dưới độ tuổi 21 vào thời điểm gửi đơn đăng ký ban đầu). Tại Hoa Kỳ, chương trình đòi hỏi nhà đầu tư di trú muốn thành công phải thực hiện khoản đầu tư có rủi ro (một triệu đô la hoặc 500.000 đô la tùy theo một số yếu tố) tạo ra không dưới 10 việc làm mới cho người Hoa Kỳ, từ đó mang tên Thị thực ưu tiên thứ 5 dựa trên việc làm

Nếu một cư dân người nước ngoài đầu tư 1 triệu đô la (hoặc trong một số trường hợp là 500.000 đô la tại một số khu vực việc làm mục tiêu, khu vực này được thống kê chứng minh là có tỉ lệ cư dân Hoa Kỳ thất nghiệp 150% hoặc là khu nông thôn) vào một doanh nghiệp tạo ra mười việc làm mới cho người Hoa Kỳ, thì nhà đầu tư di trú sẽ được cấp thẻ xanh (thị thực vĩnh viễn) cho bản thân và thành viên phù hợp trong gia đình. Chương trình có các điều khoản khác, như là phải duy trì khoản đầu tư trong suốt thời gian thường trú có điều kiện của EB-5, tăng năng suất vùng, và các yêu cầu khác. Chương trình có hai giai đoạn phân biệt. Ở giai đoạn đầu, nhà đầu tư di trú được cấp thị thực có điều kiện. Sau hai năm, điều kiện trên thị thực bị loại bỏ nếu nhà đầu tư chứng minh là đã tạo mười việc làm mới cho người Hoa Kỳ, duy trì số tiền đầu tư cần thiết và đáp ứng các yêu cầu về thời gian thường trú; lúc này thị thực, ngoài việc được loại bỏ điều kiện, còn trở thành vĩnh viễn.

Lịch sử hạng mục thị thực EB-5 ra sao?

Hạng mục thị thực EB-5 bắt đầu từ năm 1991. Các trung tâm khu vực ra đời năm 1993. CMB Export LLC gửi đơn đăng ký làm Trung tâm khu vực và được Sở Tự nhiên hóa và Di trú (INS) phê chuẩn năm 1997 (chúng tôi là Trung tâm khu vực thứ 2 được phê chuẩn). Giữa những năm 90, một số công ty cạnh tranh thu thập vốn đầu tư từ các nhà đầu tư nước ngoài trong chương trình EB-5. Hầu hết các công ty không mang lại các khoản đầu tư và cơ hội đầu tư hợp lý, không đặt toàn bộ số vốn đầu tư 500.000 đô la vào công ty thương mại mới hoặc tạo ra số việc làm mới cho người Hoa Kỳ như yêu cầu. INS muốn ngăn chặn những hành động lạm dụng như vậy và các dạng lạm dụng khác đối với chương trình, từ đó dẫn đến nhiều vụ kiện và chương trình EB-5 đã chính thức bị đình chỉ giữa 1999 và 2002/2003. Năm 2002, Quốc hội thông qua các thay đổi mới đối với luật EB-5 hiện hữu, đặc biệt là “Chương trình thí điểm” bao gồm việc thành lập các trung tâm khu vực để bảo vệ chất lượng chương trình. Ngoài ra, năm 2002, trong một trường hợp thường được biết đến với tên gọi “Chang”, Tòa án phúc thẩm khu vực số 9 quy định rằng USCIS, hay là INS, không thể áp dụng luật mới vào các trường hợp đã xử lý trước kia, cũng không được xem xét lại I-526 ở giai đoạn I-829. Tháng 8 năm 2003, USCIS bắt đầu phê chuẩn đơn thành lập Trung tâm khu vực lần đầu tiên kể từ năm 1998.

Tháng 1 năm 2005, để nâng cấp và xúc tiến các hoạt động liên quan tới Trung tâm khu vực EB-5, USCIS thành lập Ban đầu tư và trung tâm khu vực, IRCU, là đơn vị có toàn quyền xét duyệt, bao gồm phê chuẩn, từ chối và yêu cầu bằng chứng (RFE) đơn đăng ký các Trung tâm khu vực theo Chương trình thí điểm đầu tư di trú. Với ảnh hưởng từ trường hợp “Chang” và các đạo luật mới của Quốc hội trong lĩnh vực này, CMB đăng ký và được nhận thư ủy quyền Trung tâm khu vực mới năm 2007. Ngày nay, đơn đăng ký di trú EB-5 thường sẽ được phê chuẩn nếu dựa trên khoản đầu tư hợp lý vào các Trung tâm khu vực chỉ định với TEA đã chứng nhận, có dữ liệu thống kê chính xác kèm theo bằng chứng phù hợp cho thấy sẽ tạo ra mười việc làm mới tương ứng với mỗi nhà đầutư trong nước từ nước ngoài, có 500.000 đô la được đầu tư đầy đủ vào một công ty thương mại mới theo dạng đầu tư rủi ro như nguyên tắc quy định, và có chứng từ hỗ trợ hợp lý.

Trung tâm khu vực chỉ định là gì?

Một “Trung tâm khu vực:”

Các dạng Đầu tư EB-5: Đầu tư trực tiếp hoặc đầu tư vào Trung tâm khu vực

Đầu tư EB-5 được chia thành hai hạng mục: khoản đầu tư trực tiếp do cư dân người nước ngoài thực hiện vào một công ty cụ thể hoặc  khoản đầu tư vào một Trung tâm khu vực. Khoản đầu tư trực tiếp thì chỉ là như trên- đầu tư vào một công ty cụ thể. Nếu khoản đầu tư EB-5 được thực hiện theo dạng trực tiếp thì yêu cầu về công tác tạo việc làm của nhà đầu tư chỉ tính số việc làm trực tiếp (thẻ xanh vĩnh viễn cho họ và tất cả các thành viên phù hợp trong gia đình dưới 21 tuổi). Việc làm trực tiếp là những việc làm mới cho người Hoa Kỳ trong công ty cụ thể (công ty thương mại) mà nhà đầu tư đã thực hiện đầu tư.

Trung tâm khu vực là mệnh danh mà USCIS dùng cho một thực thể đã đáp ứng các yêu cầu nêu trong quy định của USCIS về trung tâm khu vực. Quy trình đăng ký Trung tâm khu vực rất khắt khe và phức tạp; ngoài nhiều tài liệu khác phải nộp, đơn đăng ký giới thiệu tóm lược về toàn bộ kế hoạch hoạt động của Trung tâm khu vực và phương pháp luận sẽ được sử dụng để tạo ra mười việc làm mới cho mỗi nhà đầu tư trong nước từ nước ngoài trong công ty thương mại đã đầu tư. Khi được USCIS phê chuẩn, Trung tâm khu vực có thêm những ưu thế vượt trội, đó là Trung tâm khu vực có thể tạo việc làm bằng cách tập hợp vốn của nhiều nhà đầu tư và sử dụng việc làm trực tiếp cũng như gián tiếp. Đây là công hụ rất mạnh cho phép cung cấp bằng chứng đã tạo việc làm một cách dễ dàng hơn. Trung tâp khu vực được phép dùng cả việc làm trực tiếp và gián tiếp để giải quyết yêu cầu với nhà đầu tư là phải tạo ra tổi thiểu mười việc làm mới cho người Hoa Kỳ. Nói đơn giản, về khả năng chứng minh số việc làm đã tạo ra trong một công ty thương mại mới theo yêu cầu thì cách đầu tư vào Trung tâm khu vực linh hoạt hơn so với cách đầu tư trực tiếp. Chúng tôi tin rằng nếu đầu tư vào Trung tâm khu vực CMB thì nhà đầu tư di trú sẽ có công cụ hiệu quả nhất để được cấp thị thực vĩnh viễn. Phương pháp luận mà chúng tôi dùng để chứng minh số việc làm bắt đầu từ giai đoạn I-526 và đến nay mọi giai đoạn xem xét I-829 cuối cùng đều thành công 100%.