Câu hỏi thường gặp (FAQ) của Nhà đầu tư EB-5

Xin lưu ý rằng các FAQ (câu hỏi thường gặp) này chỉ dùng cho mục đích cung cấp thông tin và không được dùng để thay thế cho các ý kiến chuyên môn về pháp lý và/hoặc tài chính. Xin vui lòng nhờ luật sư chuyên về di trú và/hoặc chuyên gia tài chính tư vấn trước khi quý vị chọn một khoản đầu tư EB-5 nào đó.

Quan trọng: Mọi tài liệu đi kèm trong các hồ sơ giới thiệu phải được dịch sang tiếng Anh. Nhà đầu tư phải ký nhận bản tiếng Anh của tất cả các thỏa thuận, mẫu chính phủ và đơn đăng ký. Ngoài ra, xin vui lòng nhờ luật sư di trú có giấy phép tư vấn nếu quý vị muốn tìm hiểu nghiêm túc về đầu tư.

  1. Cơ cấu đầu tư EB-5 là như thế nào?

Một Hợp danh hữu hạn được thành lập làm cơ sở để xử lý yêu cầu có công ty thương mại mới. Hợp danh hợp hạn này được quản lý bởi Đối tác chung của Hợp danh hữu hạn, Đối tác chung này bao gồm CMB Export, LLC hoặc các trung tâm khu vực chi nhánh khác mà Trung tâm khu vực CMB điều hành. Đối tác chung sẽ chịu trách nhiệm về việc khởi xướng và quản lý các khoản đầu tư EB-5 của hợp danh. Đối tác chung cũng chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh hàng ngày của hợp danh cũng như công tác đảm bảo Trung tâm khu vực tuân thủ tất cả các luật lệ và nguyên tắc của Chương trình EB-5. Đối tác hữu hạn là nhà Đầu tư EB-5 trong nước từ nước ngoài. Đối tác chung sẽ chia sẻ lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của Hợp danh như được giới thiệu sơ lược trong Thỏa thuận hợp danh hữu hạn.

  1. Hợp Danh Dữu Hạn là gì?

Hợp danh hữu hạn được thành lập bằng cách gửi điều lệ tới chính phủ của một bang, hợp danh bao gồm đối tác chung và một hoặc nhiều đối tác hữu hạn. Điều lệ nêu chi tiết quyền lợi và quyền hạn của đối tác hữu hạn, của đối tác chung, phần trăm quyền sở hữu, và cách phân phối lợi nhuận, cũng như các khoản đền bù. Đối tác chung quản lý công việc kinh doanh. Đối tác hữu hạn có nghĩa vụ hữu hạn trong hợp danh và chỉ chịu trách nhiệm về khoản tiền phải đầu tư của mình.

Hợp danh hữu hạn kết hợp trách nhiệm hữu hạn tập thể với thuế hợp danh. Điều lệ và Thỏa thuận hợp danh hữu hạn nêu chi tiết quyền lợi và quyền hạn của đối tác hữu hạn, của đối tác chung, phần trăm quyền sở hữu, và cách phân phối lợi nhuận theo đối tác chung. Trong hợp danh hữu hạn, thu nhập được đánh thuế theo mức tập thể, không theo mức cá nhân.

  1. Đâu là rủi ro?

Mọi dạng đầu tư luôn có rủi ro tổn thất toàn bộ. Tuy nhiên, CMB nỗ lực thực hiện trọng trách của mình để xây dựng các khoản đầu tư EB-5 theo hướng giảm thiểu rủi ro cho khách hàng mà vẫn đáp ứng yêu cầu “có rủi ro” của luật về EB-5 cũng như mục tiêu chung là có được thị thực EB-5. CMB yêu cầu bên vay xác định nguồn doanh thu để hoàn trả khoản vay. CMB cũng yêu cầu mở rộng điều kiện trong trường hợp có khoản vay bị quá hạn chưa thu hồi, chẳng hạn như tăng lãi suất trả nợ, hoặc phát sinh các nghĩa vụ khác cho bên vay. Trong một sô trường hợp, chúng tôi tịch thu tài sản thế chấp hoặc tài sản đảm bảo khi xảy ra nợ quá hạn không trả, chúng tôi tìm hiểu các Thỏa thuận cho vay liên đới và các nghĩa vụ khác mà bên vay có để hoàn tất việc thu lại khoản đầu tư EB-5 đã cho vay. Trong hầu hết các trường hợp, bên vay phải cung cấp cho mỗi hợp danh CMB bản báo cáo tài chính đã kiểm toán và các chứng từ khác như bảng đánh giá của Moody’s hoặc Standard & Poors. Ví dụ, IVDA đã báo cáo hạng A- AAA theo Standard & Poors. Có các vấn đề tồn tại ngoài tầm kiểm soát của Trung tâm khu vực như là thiên tai, chiến tranh, khủng hoảng tài chính của chính quyền địa phương hoặc tiểu bang, và biến động thị trường thu nhập và/hoặc giá trị bất động sản. Tất cả các nhà đầu tư có cơ hội ghé thăm khu dự án EB-5, gặp đơn vị quản lý, nhận tài liệu cần thiết để xem xét khoản đầu tư EB-5, và nhận tài liệu tham khảo để tự mình xác minh thông tin của tài liệu đầu tư EB-5. Chúng tôi khuyến khích tất cả các nhà đầu tư ghé thăm, kiểm tra tài liệu của chúng tôi và của bên vay, cũng như độc lập kiểm chứng thông tin ghi trong PPM (Biên bản ghi nhớ đầu tư riêng lẻ).

  1. Tôi có cần đầu tư toàn bộ 500.000 đô la Mỹ trước khi đăng ký Thẻ xanh không?

Có, mặc dù luật quy định là “đã đầu tư trước hoặc đang đầu tư”, trong lĩnh vực EB-5, CMB từng chứng kiến những trường hợp đang đầu tư bị từ chối, do đó chúng tôi yêu cầu ký quỹ trước toàn bộ số tiền theo hồ sơ đầu tư.

  1. Khoản đầu tư EB-5 của tôi an toàn thế nào?

CMB công nhận rằng không có khoản đầu tư mạo hiểm nào có thể được gọi là “an toàn”; tuy nhiên, CMB tin rằng chúng tôi đã xây dựng các khoản vay đầu tư EB-5 an toàn nhất có thể theo yêu cầu pháp lý là đầu tư EB-5 phải thực sự “có rủi ro”. Đây là lý do CMB xây dựng các khoản vay cho các cơ quan chính phủ có kêu gọi đầu tư của cộng đồng trong hồ sơ đầu tư của mình. CMB cũng đầu tư với các hợp danh công/tư hoặc các công ty tư nhân đã chứng tỏ khả năng hoàn trả khoản vay và xử lý khoản nợ. Chúng tôi cũng yêu cầu nhiều dạng đảm bảo như đảm bảo tập thể, đảm bảo lợi ích thành viên, tài sản thế chấp, và Thỏa thuận cho vay liên đới và cam kết hoàn thành, cũng như các dạng khác để bảo vệ khoản vay của mình.

  1. Tại sao lại sử dụng đơn vị tìm kiếm cho chương trình EB-5 này?

CMB sử dụng các nguồn tham khảo, thường gọi là đơn vị tìm kiếm, tùy từng thời điểm để hỗ trợ việc xác định nhà đầu tư EB-5 tiềm năng.

  1. Nếu tôi muốn ghé thăm khu dự án đầu tư CMB EB-5, thì có được không?

Được, CMB có thể sắp xếp những chuyến thăm như vậy theo từng trường hợp với điều kiện thông báo phải phù hợp để lên lịch ghé thăm.

  1. Liệu có ‘đảm bảo‘được cấp Thẻ xanh EB-5 khi tham gia chương trình đầu tư EB-5 này?

Không “đảm bảo” có được Thẻ xanh. Không ai có thể đảm bảo kết quả yêu cầu hoặc đơn đăng ký thị thực; duy nhất USCIS có toàn quyền quyết định việc này. Mấu chốt là cần nhờ cố vấn pháp lý có năng lực và kinh nghiệm về lĩnh vực thị thực EB-5 tạo hồ sơ đã chuẩn bị kỹ lưỡng, để có cơ hội thành công tốt nhất. Lịch sử của CMB cho tới nay là 100% phê chuẩn dự án, 100% hoàn thành bổ sung tất cả các đơn I-892 được xem xét. CMB giờ đây đã có ba dự án EB-5 đầu tiên hoàn tất chu trình từ đầu tư vốn ban đầu, phê chuẩn I-526, phê chuẩn I-829 và hoàn vốn đầu ban đầu cho nhà đầu tư cho tới thanh lý hợp danh.

  1. Nếu đơn I-529 đăng ký ‘Thẻ xanh’ bị từ chối, thì tôi có được nhận lại 500.000 đô la Mỹ không?

Trong trường hợp rất ít khi xảy ra là đơn I-526 bị từ chối, quý vị sẽ được hoàn trả toàn bộ số tiền đã gửi và tiền lãi từ tài khoản vốn phát sinh trong thời gian tiền vốn đang được đầu tư. Việc hoàn trả tiền vốn như vậy sẽ diễn ra theo các điều khoản nêu trong hồ sơ hợp danh. Nếu quý vị được phê chuẩn đơn I-526 và bị từ chối khi phỏng vấn, CMB sẽ tìm nhà đầu tư thay thế cho quý vị. (Trong hầu hết các trường hợp, việc tìm nhà đầu tư thay thế là tương đối dễ dàng, vì sự phê chuẩn đơn I-526 là tín hiệu rất đáng kể cho thấy USCIS đã công nhận rằng dự án được xây dựng hoàn toàn đáp ứng yêu cầu của USCIS.)

  1. Phí quản lý có bao gồm công tác tư vấn pháp lý để đại diện tôi đăng ký với USCIS không?

Không, CMB tin rằng quan trọng là quý vị có nguồn tư vấn pháp lý độc lập đại diện cho lợi ích và mong muốn riêng của quý vị. Lý do Chương trình EB-5 thất bại sớm năm 1990 là xung đột lợi ích khi luật sư đại diện cho cả nhà đầu tư EB-5 lẫn Trung tâm khu vực. Chúng tôi có thể tiến cử luật sư di trú EB-5 giàu kinh nghiệm xử lý đơn đăng ký EB-5 một cách hiệu quả, tuy nhiên, quý vị cần chọn luật sư đại diện cho bản thân mình.

  1. Độ phức tạp của thủ tục giấy tờ/đăng ký là thế nào, tôi có được trợ giúp hay không?

Công việc giấy tờ rất phức tạp về mặt kinh doanh trong giao dịch EB-5, tuy nhiên, đó là trách nhiệm của CMB. Nhà đầu tư EB-5 cần cung cấp tài liệu về nguồn tài chính và các thông tin cá nhân khác cho luật sư di trú của mình. Quý vị sẽ được cung cấp danh mục chi tiết các yêu cầu và danh sách tài liệu từ luật sư di trú. Quý vị và luật sư cũng sẽ được CMB cung cấp tài liệu thiết yếu để gửi đơn I-526 và I-829, đồng thời CMB cũng sẽ phối hợp với luật sư của quý vị trong suốt quy trình đăng ký.

  1. Tôi có cần thuê luật sư di trú riêng hay không?

Có, CMB tin rằng quan trọng là quý vị có nguồn tư vấn pháp lý độc lập đại diện cho lợi ích và mong muốn riêng của quý vị. Thủ tục đăng ký EB-5 rất phức tạp và người đăng ký cần đáp ứng nhiều yêu cầu chuyên môn. Vì lợi ích tốt nhất cho các bên, mỗi bên nên có đại diện riêng và không xung đột về lợi ích. Hồ sơ hợp danh yêu cầu mỗi nhà đầu tư CMB có luật sư di trú do họ chọn làm đại diện.

  1. Chi phí để nộp hồ sơ đăng ký EB-5 là gì, nếu có?

Có ba lĩnh vực chính liên quan đến việc đóng phí/nộp tiền.

  1. Phí quản lý đầu tư EB-5.
  2. Các chi phí có liên quan tới luật sư di trú
  3. Phí nộp hồ sơ
  4. Chi phí dịch vụ hỗ trợ chuyên môn cần thiết khác, như là tư vấn thuế, v.v.

CMB yêu cầu nộp phí quản lý là một phần của tổng mức giá tham gia. Luật sư di trú mà quý vị thuê cũng thu phí khác nhau. Một phần mà quý vị nên lưu ý với trung tâm khu vực bao gồm đóng phí và những gì được thực hiện với các chi phí này. Cũng nên lưu ý các xung đột về lợi ích, dù gì thì đóng phí không phải là khoản đầu tư khôn ngoan nhất.

  1. Cân nhắc về thuế ở Hoa Kỳ

Tất cả Công dân và Thường trú nhân Hoa Kỳ đều phải tuân thủ luật thuế ở Hoa Kỳ và luật này căn cứ trên thu nhập toàn cầu. Nhà đầu tư nước ngoài nên cân nhắc ý nghĩa của luật thuế và xem xét mọi vấn đề với cố vấn tài chính của mình về việc trở thành Thường trú nhân Hoa Kỳ trước khi thực hiện khoản đầu tư EB-5 bất kỳ.

  1. Lập kế hoạch thuế trước khi di trú

Trước khi trở thành công dân Hoa Kỳ, quý vị có thể muốn cân nhắc các cách làm giảm hoặc loại bỏ một số hệ quả thu thuế thu nhập, quà tặng và tài sản của Hoa Kỳ có thể áp dụng với quý vị khi trở thành người nộp thuế ở Hoa Kỳ. Có thể đạt mục tiêu này bằng cách vận dụng một số kỹ thuật lập kế hoạch tài sản phổ biến như là:

  1. Ai nên đầu tư?

Chỉ những ai mong muốn xây dựng cơ sở thường trú tại Hoa Kỳ cho bản thân và thành viên phù hợp trong gia đình. Nhà đầu tư EB-5 bao gồm mọi người từ mọi thành phần xã hội; chuyên gia, doanh nhân, người muốn tạo điều kiện học tập cho con cái, và người về hưu. Vì thị thực EB-5 cho phép làm việc ở Hoa Kỳ, nên nhiều Nhà đầu tư EB-5 tham gia công tác từ thiện hoặc làm việc bán thời gian. Nói đơn giản, thị thực EB-5 mang lại sự linh hoạt cho phép quý vị thực hiện những điều mong muốn tại Hoa Kỳ và ngoài Hoa Kỳ. Nếu quý vị không muốn mỗi ngày phải quản lý doanh nghiệp để có thị thực Hoa Kỳ, thì nên cân nhắc EB-5 qua các trung tâm khu vực được cấp phép.

  1. Lợi ích đối tác hữu hạn của tôi được bảo vệ như thế nào?

Mỗi Hợp danh hữu hạn đều được hình thành trong các tiểu bang trên khắp Hoa Kỳ. Mỗi tiểu bang có các nguyên tắc mà Hợp danh hữu hạn phải tuân thủ. Chứng chỉ hợp danh hữu hạn phải được tiểu bang nơi Hợp danh hữu hạn thành lập ghi nhận dưới dạng hồ sơ công khai. Chứng chỉ này đề cập tới Phụ lục A là thỏa thuận hợp danh hữu hạn, trong đó liệt kê tên và phần trăm lợi tức của các đối tác hữu hạn. Nhà đầu tư được bảo vệ bởi các Nguyên tắc thương mại thống nhất và Bộ luật hợp danh hữu hạn ở các tiểu bang khác nhau, cũng như luật tiểu bang và các tòa án tiểu bang và liên bang khác. Như trong hầu hết các hoạt động đầu tư, luôn có rủi ro tổn thất toàn bộ, và một phần quy định EB-5 yêu cầu khoản đầu tư phải hoàn toàn mạo hiểm. Tuy nhiên, CMB nỗ lực thực hiện trọng trách của mình để xây dựng các khoản đầu tư EB-5 theo hướng giảm thiểu rủi ro cho khách hàng mà vẫn đáp ứng yêu cầu “có rủi ro” của luật về EB-5 cũng như mục tiêu chung là có được thị thực EB-5. CMB yêu cầu bên vay xác định nguồn doanh thu để hoàn trả khoản vay. CMB cũng yêu cầu mở rộng điều kiện trong trường hợp có khoản vay bị quá hạn chưa thu hồi, chẳng hạn như tăng lãi suất trả nợ, hoặc phát sinh các nghĩa vụ khác cho bên vay. Trong một sô trường hợp, chúng tôi tịch thu tài sản thế chấp hoặc tài sản đảm bảo khi xảy ra nợ quá hạn không trả, chúng tôi tìm hiểu các Thỏa thuận cho vay liên đới và các nghĩa vụ khác mà bên vay có để hoàn tất việc thu lại khoản đầu tư EB-5 đã cho vay. Trong hầu hết các trường hợp, bên vay phải cung cấp cho mỗi hợp danh CMB bản báo cáo tài chính đã kiểm toán và các chứng từ khác như bảng đánh giá của Moody’s hoặc Standard & Poors. Ví dụ, IVDA đã báo cáo hạng A – AAA theo Standard & Poors. Có các vấn đề tồn tại ngoài tầm kiểm soát của Trung tâm khu vực như là thiên tai, chiến tranh, khủng hoảng tài chính của chính quyền địa phương hoặc tiểu bang, và biến động thị trường thu nhập và/hoặc giá trị bất động sản. Tất cả các nhà đầu tư có cơ hội ghé thăm khu dự án, gặp đơn vị quản lý, nhận tài liệu cần thiết để xem xét khoản đầu tư, và nhận tài liệu tham khảo để tự mình xác minh thông tin của tài liệu đầu tư. Ngoài ra, CMB luôn nỗ lực để cập nhật các hoạt động dự án lên trang web theo từng quý.

  1. Khoản đầu tư của tôi có đảm bảo không?

Không. Luật yêu cầu đầu tư phải “có rủi ro” mà không được đảm bảo hoặc bồi thường. CMB thực hiện nhiều biện pháp để giảm thiểu rủi ro nhưng khoản đầu tư phải “có rủi ro”. Nhà đầu tư EB-5 tiềm năng nên cực kỳ cần thận với các Trung tâm khu vực hoặc người đại diện nào nói rằng khoản đầu tư EB-5 được đảm bảo, vì điều này bị cấm và sẽ khiến đơn xin bị từ chối. Nói cách khác, nếu một trung tâm khu vực cung cấp sự “đảm bảo”, thì họ vi phạm nguyen tắc của Chương trình. Nên cân nhắc những gì họ nói chỉ để thu tiền đầu tư của Quý vị. Nên tìm hiểu cẩn thận, không chỉ về trung tâm khu vực mà còn về dự án cụ thể mà họ tài trợ.

  1. Tiền phí CMB như thế nào khi nhà đầu tư trở thành Đối tác hữu hạn?

CMB, với cương vị Đối tác chung, nhận phần trăm lãi suất của tổng lãi suất tính theo một trong hai dạng. Đối tác chung nhận lãi suất theo từng quý. Tiền lãi trả cho Đối tác chung có thể khác nhau. Một dạng lãi là do hợp danh nhận được theo khoản tiền hợp danh cho đối tượng đầu tư vay, dạng lãi kia được tính dựa trên lãi suất thu từ đối tượng đầu tư áp dụng cho khoản đầu tư gốc. Trong hai dạng này, tiền lãi nào lớn hơn sẽ được trả cho Đối tác chung. Nên lưu ý rằng tất cả chi phí hàng ngày đều được thanh toán trong tiền lãi mà Đối tác chung nhận. Đối tác chung cũng được hưởng 20% lợi nhuận, nếu có, phát sinh từ Hợp danh còn 80% lợi nhuận và/hoặc thu nhập còn lại sẽ được chia tương ứng cho các Đối tác hữu hạn sau khi lãi hàng quý được trả cho Đối tác chung. Lưu ý khác là lợi nhuận thu được từ đầu tư không phải là mục tiêu cao nhất của một hợp danh CMB. Chúng tôi tin rằng các khoản đầu tư được xây dựng sao cho khả năng nhà đầu tư được cấp thị thực EB-5 là rất cao. Chúng tôi xác định rằng để giúp nhà đầu tư thành công thì phải đạt được ba điều: tình trạng thường trú nhân, hoàn trả vốn gốc và lợi nhuận đầu tư. Điều thứ nhất và thứ hai mới là ưu tiên hàng đầu. Theo nhận định, mỗi nhà đầu tư nhận được rất ít lợi nhuận từ đầu tư, trường hợp tốt nhất là xấp xỉ 0,8% mỗi năm. Nếu hợp danh chấm dứt sớm thì Đối tác chung vẫn được thu lãi như thể khoản vay mục tiêu vẫn tiếp tục trọn vẹn thời hạn sáu năm. Đây là lựa chọn của Đối tác chung, vì họ có thể chọn giữ lại hơp danh thay vì chấm dứt nó sau khi mọi khoản đầu tư đều đã hoàn tất.

  1. Khi nói “vốn” đầu tư hợp chuẩn thì nghĩa là gì?

Vốn được định nghĩa là tiền mặt, trang thiết bị, hàng dự trữ, các tài sản hữu hình khác, tài sản tương đương tiền và nợ được đảm bảo bằng tài sản thuộc sở hữu của doanh nhân người nước ngoài. Khoản nợ dùng để đầu tư chỉ đủ tiêu chuẩn làm vốn nếu doanh nhân người nước ngoài đích thân và chịu trách nhiệm chính cho nó, cơ cấu nợ là chấp nhận được về thương mại và khoản đầu tư EB-5 không cho phép đảm bảo khoản nợ bằng bất kỳ dạng thế chấp nào. Nhà đầu tư có thể có số tiền vốn cần thiết qua hình thức quà tặng.

  1. Khi nào nhà đầu tư có thể kết thúc đầu tư?

Thời gian dự kiến của mỗi hợp danh hữu hạn CMB là phụ thuộc vào số tiền đầu tư. Điển hình thì khoản vay đầu tư EB-5 của chúng tôi kéo dài 6 (sáu) năm. Tuy nhiên, tùy theo hoạt động của Hợp danh, thời gian này có thể dài hoặc ngắn hơn. Thỏa thuận hợp danh thực tế là 10 (mười) năm với quyền được lựa chọn chấm dứt sớm khi tất cả các khoản đầu tư đều đã hoàn tất. Các khoản đầu tư CMB có dạng dựa trên khoản cho vay hoặc dựa trên vốn sở hữu. Điều này nghĩa là Đối tác hữu hạn không cần phải bán thứ gì để rút khỏi hợp danh. Chúng tôi tin rằng cơ cấu này mang lại sự an tâm khi xác định thời điểm đối tác hữu hạn có thể kết thúc đầu tư. Nhớ là, trong khoản đầu tư dựa trên vốn sở hữu, tất cả các nhà đầu tư EB-5 đều sẽ ngừng đầu tư vào cùng hoặc gần như cùng thời điểm. Việc ngừng đồng loạt như vậy có thể ảnh hưởng rất lớn không chỉ đến khả năng bán lãi vốn sở hữu bất kể là sở hữu khách sạn, khu nghỉ dưỡng, nông trại hay tòa nhà thương mại, v.v. mà còn đến giá trị cổ phần vốn sở hữu vì tất cả các đối tác hữu hạn đều bán lợi nhuận sở hữu tương tự vào cùng hoặc gần như cùng thời điểm. Đầu tư dựa trên khoản cho vay tránh được các khó khăn này vì không cần phải bán gì khi muốn kết thúc hợp danh. Một khi tất cả các khoản đầu tư dựa trên khoản cho vay EB-5 đã được hoàn trả và các nhà đầu tư đồng ý thanh lý hợp danh, thì tài khoản vốn của riêng họ và thu nhập vốn cũng như lợi nhuận giữ lại của chung sẽ được chia cho mỗi đối tác hữu hạn, sau đó hợp danh sẽ chấm dứt.

  1. Làm thế nào để nhà đầu tư nước ngoài đáp ứng yêu cầu EB-5?
  2. Lập công ty thương mại mới
  3. Luật yêu cầu nhà đầu tư-người đăng ký phải đầu tư vào công ty thương mại mới. Công ty này phải “mới”, ví dụ, được thành lập sau ngày 29 tháng 11 năm 1990, là ngày luật có hiệu lực.
  4. Tuy nhiên, nhà đầu tư vẫn có thể góp vốn cho một doanh nghiệp đang tồn tại đã thành lập trước ngày 29 tháng 11 năm 1990 theo một trong ba trường hợp.
  5. Tái tổ chức/tái cấu trúc
  6. Cách này thường đòi hỏi phải tái tổ chức hoặc tái cấu trúc rất nhiều đối với doanh nghiệp hiện hữu. Ngoài ra, USCIS còn quy định rằng nếu chỉ thay đổi quyền sở hữu, chỉ thay đổi vẻ ngoài như là cách trang trí của khu kinh doanh và triển khai chiến lược tiếp thị mới mới thì không đủ để xem là thành lập công ty thương mại mới. Trái lại, nếu thay đổi hoàn toàn bản chất hoạt động kinh doanh thì rất có khả năng được xem là sự thay đổi đạt yêu cầu.
  7. Mở rộng thêm 40%
  8. Nhà đầu tư có thể đầu tư và mở rộng một doanh nghiệp hiện hữu, dẫn đến tăng tối thiểu bốn mươi phần trăm giá trị thực tế của doanh nghiệp hoặc số nhân viên trong doanh nghiệp đó. USCIS có thể yêu cầu bằng chứng dưới dạng như tờ khai thuế thu nhập, báo cáo tài chính đã kiểm toán, và tờ khai thuế sử dụng lao động. Các khoản đầu tư nêu trên phải là đầu tư vào một doanh nghiệp “thương mại”. Mọi công ty hoạt động vì lợi nhuận được thành lập để liên tục tiến hành kinh doanh hợp pháp đều có thể được xem là công ty thương mại. Điều này bao gồm công ty sở hữu tư nhân, hợp danh (hữu hạn hoặc chung), công ty cổ phần, liên doanh, tập đoàn, quỹ ủy thác kinh doanh, hoặc các công ty khác do tập thể hoặc cá nhân làm chủ. Định nghĩa này bao gồm công ty cổ phần và các chi nhánh mà nó sở hữu hoàn toàn, nếu mỗi chi nhánh đều tham gia hoạt động vì lợi nhuận để liên tục tiến hành kinh doanh hợp pháp. Tuy nhiên, thuật ngữ ‘công ty thương mại mới’ không bao gồm hoạt động phi thương mại như là sở hữu nơi cư trú cá nhân.
  9. Đầu tư vào doanh nghiệp gặp khó khăn
  10. Nhà đầu tư có thể đầu tư vào một doanh nghiệp đang gặp khó khăn, đây phải là doanh nghiệp hiện hữu và mất 20% giá trị thực tế trong 12 hoặc 24 tháng hoạt động vừa qua.

Doanh nghiệp gặp khó khăn/Giữ công ăn việc làm

Có những nguyên tắc đặc biệt chi phối việc đầu tư vào doanh nghiệp gặp khó khăn. Một doanh nghiệp gặp khó khăn là doanh nghiệp đã tồn tại tối thiểu hai năm, tổn thất vốn sở hữu thực tế là 20% khi giải trình trong thời gian mười hai hoặc hai mươi bốn tháng trước khi nhà đầu tư gửi đơn đăng ký, và sự tổn thất trong khoảng thời gian đó tương đương tối thiểu hai mươi phần trăm giá trị thực tế của doanh nghiệp trước khi tổn thất. Nếu đơn đăng ký dựa trên việc đầu tư vào doanh nghiệp khó khăn, thì nhà đầu tư không cần phải tạo mười việc làm mới. Thay vào đó, đơn đăng ký có thể dựa vào bằng chứng là doanh nghiệp đã giữ được việc làm, như vậy cần chứng minh khoản đầu tư mục tiêu sẽ duy trì hoặc tăng số nhân viên trong khoảng thời gian điều kiện.

Nội dung trên nêu những gì được chấp nhận là công ty thương mại mới, tuy nhiên cũng phải đảm bảo các yêu cầu về xác định TEA, tạo 10 việc làm mới và các yêu cầu khác theo chương trình EB-5.

  1. Nghĩa vụ của nhà đầu tư khi tham gia đầu tư là gì?

Theo các quy định, nhà đầu tư phải “tích cực” trong việc quản lý khoản đầu tư EB-5. Nhà đầu tư phải tham gia việc quản lý công ty thương mại mới, bằng cách kiểm soát công tác quản lý hàng ngày hoặc xây dựng quy chế chính sách. Tuy nhiên, các quy định đặc biệt cho phép nhà đầu tư đạt tiêu chuẩn là “đối tác hữu hạn” “tích cực” theo Đạo luật hợp danh hữu hạn thống nhất điều chỉnh. Một đối tác hữu hạn cần phải biểu quyết thực hiện một số lựa chọn, như về việc thanh lý hợp danh. Chương trình thị thực đầu tư CMB đáp ứng tất cả các yêu cầu bằng cách đưa nhà đầu tư vào chương trình đầu tư với cương vị là đối tác hữu hạn. Cương vị này cho phép nhà đầu tư tham gia hoạt động kinh doanh mà không cần thực hiện nhiều công tác trong hợp danh hữu hạn EB-5. Ngoài ra, cơ cấu này cho phép nhà đầu tư sống ở nơi họ muốn, và mang lại khả năng lựa chọn được đến hoặc rời Hoa Kỳ mà không cần dành nhiều thời gian quản lý khoản đầu tư EB-5. Quan trọng nhất là, đối tác hữu hạn, tương tự cổ đông trong doanh nghiệp, chỉ chịu trách nhiệm với doanh nghiệp về phần đầu tư mà mình đã thỏa thuận. Cơ cấu kinh doanh này bảo vệ nhà đầu tư, giúp họ không phải tham gia nhiều hoạt động và được USCIS chấp nhận.

  1. Khi nói đến “tài sản thực tế” thì nghĩa là gì?

Tài sản thực tế, hay giá trị thực tế, của một nhà đầu tư có thể được xác định bằng cách tính đơn giản : tổng giá trị của mọi thứ sở hữu, trừ tổng giá trị nghĩa vụ tài chính (nợ). Tài sản có thể là từ nguồn hợp pháp nào đó, ở nơi nào đó trên thế giới:

(Đương nhiên, tiền đến từ các nguồn như buôn lậu, bán dược phẩm bất hợp pháp hoặc các hoạt động bất hợp pháp khác thì sẽ không được tính.)

Sẽ cần xác minh tài sản và nguồn mang lại tài sản đó. Không cần phải ghi chép hoặc khai báo tất cả các tài sản, chỉ cần đến mức đủ để đáp ứng các yêu cầu của USCIS và Chương trình.

  1. Khi gửi tiền vào một hợp danh đầu tư EB-5 CMB, thì tôi sẽ nhận được những gì từ khoản đầu tư đó?

Mỗi nhà đầu tư được nhận vào Hợp danh hữu hạn CMB sẽ được nhận chứng chỉ Hợp danh hữu hạn. Họ trở thành đối tác hữu hạn với tất cả các quyền trong Thỏa thuận hợp danh hữu hạn và được nhiều Luật pháp cấp tiểu bang và liên bang bảo vệ. Nhà đầu tư sẽ sở hữu một phần của hợp danh và được lập tài khoản vốn. Nhà đầu tư được hưởng phần trăm lợi nhuận từ Hợp danh hữu hạn như trao đổi trong Thỏa thuận hợp danh hữu hạn. Ngoài ra, mỗi Đối tác hữu hạn còn có quyền truy cập phần bảo mật trên trang web của CMB, tại đó đó họ có thể giám sát hoạt động của hợp danh và tài khoản vốn của riêng họ. Mỗi nhà đầu tư CMB được hỗ trợ bởi sự nỗ lực, kinh nghiệm và sự cống hiến của toàn thể đội ngũ CMB. Hãy nhớ rằng quý vị chỉ cần gọi một cuộc điện thoại hoặc gửi một email là đủ để được chúng tôi giải đáp mọi thắc mắc.

  1. CMB có giúp tôi gửi đơn đăng ký di trú hay không?

Trung tâm khu vực CMB không gửi bất kỳ đơn đăng ký di trú nào cả; tuy nhiên, CMB sẽ nỗ lực phối hợp với luật sư di trú của quý vị. CMB yêu cầu tất cả các nhà đầu tư phải đảm bảo có nguồn tư vấn pháp lý độc lập của riêng họ để gửi hồ sơ giấy tờ di trú và hoàn tất thủ tục đăng ký thị thực cho nhà đầu tư EB-5. CMB đảm nhiệm khía cạnh kinh doanh của quy trình phức tạp này. CMB sẽ cung cấp tài liệu hõ trợ đơn I-526 và 829 của nhà đầu tư cho luật sư mà nhà đầu tư lựa chọn. CMB sẽ hỗ trợ cung cấp thông tin về đầu tư EB-5 và trung tâm khu vực cho người tư vấn của quý vị. CMB cũng sẽ cung cấp tài liệu cho toàn bộ khía cạnh kinh doanh của quy trình EB-5 và sẽ hỗ trợ đơn vị cố vấn pháp lý của nhà đầu tư.

  1. Nếu so với các Trung tâm khu vực khác thì CMB như thế nào?

CMB có ba mục tiêu đã xây dựng rõ ràng, được thiết kế theo nhu cầu của nhà đầu tư EB-5. Hầu hết các khoản đầu tư vốn sở hữu đều có xu hướng liên quan tới một dự án mà Đối tác chung có lãi từ quyền sở hữu. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư tiềm năng nên nhận thấy rủi ro nghiêm trọng là xảy ra xung đột lợi ích. Mỗi nhà đầu tư EB-5 tiềm năng cần lưu ý thật kỹ phần vốn sở hữu của khoản đầu tư, chi phí bên trong, chiến lược rút lui, cũng như cách xây dựng khoản đầu tư để đáp ứng việc hoàn trả vốn gốc, thu được lợi nhuận từ khoản đầu tư và nhu cầu di trú của nhà đầu tư. Với CMB, ba mục tiêu chính là:

  1. Xây dựng dự án EB-5 sao cho có khả năng rất cao giúp nhà đầu tư có được thị thực vĩnh viễn theo chương trình đầu tư EB-5.
  2. Xây dựng dự án để cũng cố khả năng hoàn trả khoản đầu tư vốn ban đầu cho nhà đầu tư
  3. Củng cố khả năng thu được lợi nhuận từ đầu tư, mặc dù chỉ là khoản lợi nhuận rất nhỏ.

Từng mục tiêu nêu trên được nêu trên trang web của chúng tôi và các câu hỏi thường gặp khác. Quan trọng là nhà đầu tư EB-5 hiểu mục tiêu của đối tác chung có phù hợp với mục tiêu của nhà đầu tư hay không. CMB tin rằng phương pháp đầu tư dựa trên khoản cho vay của chúng tôi phù hợp với mục tiêu của nhà đầu tư EB-5. Chúng tôi tin rằng mục tiêu chính của mỗi “nhà đầu tư” EB-5 là thị thực vĩnh viễn, do đó khả năng tạo việc làm là trọng tâm mà chúng tôi tập trung. Vì nếu không tạo ra việc làm, thì không có được thị thực. Ngoài ra, mỗi khoản đầu tư CMB đều có những điểm mạnh dưới đây.

Hầu hết các đối thủ cạnh tranh với chúng tôi đều phụ thuộc vào một dự án đầu tư cụ thế nảo đó, có thể là phục hồi kho bãi, trồng cây hạnh và nho, vận hành nông trại bò sữa, cho một công ty cụ thể nào đó vay, v.v. Nhà đầu tư tiềm năng nên hỏi: nếu công việc đó thất bại thì thế nào? Phương pháp luận nào được dùng để chứng minh sẽ tạo việc làm mới? Việc làm được đưa vào các doanh nghiệp hiện hữu có được coi là mới hay không? Nhân công thu hoạch nho và các sản phẩm nông nghiệp khác có thể đáp ứng yêu cầu khắt khe về bằng chứng tạo việc làm trực tiếp hay không? Công ty có thực sự sử dụng người lao động trực tiếp mà họ công bố? Liệu công ty có chứng từ cần thiết cho từng người lao động trực tiếp đã công bố?

CMB đầu tư vào nhiều dự án với sự tập trung nhiều nhất là vào nâng cấp công trình xây dựng hoặc cơ sở hạ tầng. Từ trước tới nay, việc nâng cấp công trình xây dựng/cơ sở hạ tầng đã luôn chứng minh là sẽ tạo ra việc làm bằng cách sử dụng các phương pháp kinh tế như RIMS II, REDYN và IMPLAN. Tóm lại, CMB có các phương pháp đơn giản và xác thực để chứng minh đã tạo ra việc làm. Bằng cách sử dụng mô hình chi dùng và biết các khoản ngân sách là gì, chúng tôi có thể tính toán các khoản chi tiêu hợp yêu cầu. Với thông tin này, không cần tính toán số việc làm cho đơn I-829. Chúng tôi chỉ cần chứng minh tiền đã được sử dụng, vì nếu dùng tiền theo các mô hình kinh tế trên thì sẽ tạo ra việc làm. Các hợp danh hữu hạn CMB gây quỹ nâng cấp cơ sở hạ tầng trong nhiều dự án riêng. Ngoài ra, quỹ CMB thường không nhiều hơn 25 tới 45% khoản đầu tư tổng quát. Điều này nghĩa là mỗi nhà đầu tư có tối thiểu hai hoặc ba đô la ở bên ngoài đang vận hành để tạo ra việc làm mới cho mỗi đô la mà họ đầu tư. Nhà đầu tư CMB có thể “yên tâm” vì phương pháp này đã được chứng minh bằng hơn 1.600 lần trong các khoản đầu tư Trung tâm khu vực CMB trước đây. Không cần lo lắng về dự án CMB vì sẽ tạo việc làm mới, vấn đề tạo việc làm đã được định hình trong đơn I-526 và được giới thiệu khi nào sẽ diễn ra. Khoản đầu tư CMB chỉ dựa vào cách tạo việc làm gián tiếp và thể hiện chính xác khi nào và làm thế nào việc làm mới được tạo ra để góp phần hỗ trợ đơn I-526 của nhà đầu tư. Khoản đầu tư phụ thuộc vào việc làm trực tiếp khiến mỗi nhà đầu tư băn khoăn không biết những việc làm đó có được tạo không và khi nào tạo. Ngoài ra, mỗi việc làm trực tiếp sẽ cần nhiều thủ tục giấy tờ khi công bố. Một số luật sư giàu kinh nghiệm di trú EB-5 đã mô tả việc làm trực tiếp là “lộn xộn” và cũng là cách làm nên tránh.

  1. Những rủi ro đi kèm với việc đầu tư kinh doanh liên quan tới sự loại bỏ các điều kiện khỏi thị thực có điều kiện (Đơn I-829) là gì?

Rủi ro đi kèm với việc đầu tư kinh doanh và sự loại bỏ các điều kiện phụ thuộc vào khoản đầu tư cá nhân mà nhà đầu tư EB-5 tiềm năng chọn. Các Trung tâm khu vực rất khác nhau và xây dựng khoản đầu tư cũng theo những cách khác nhau. Trước khi quyết định đầu tư vào trung tâm khu vực nào đó, Nhà đầu tư tiềm năng nên dành nhiều thời gian tìm hiểu khoản đầu tư mà họ đang cân nhắc liệu có thể đáp ứng các yêu cầu về tạo việc làm hay không. Nếu nhà đầu tư chọn tham gia trung tâm khu vực rồi đợi đến khi đơn I-829 được gửi, thì đã là quá trễ.

Đơn I-829 căn bản là biện pháp chống lừa đảo. USCIS có hai mối lo chính khi cân nhắc có nên phê chuẩn đơn I-829 của một nhà đầu tư hay không. (1. Có phải đã có 10 việc làm được tạo ra tương ứng với mỗi nhà đầu tư trong dự án hay không? 2. Nhà đầu tư có còn hoạt động tích cực trong khoản đầu tư và có đầu tư số vốn cần thiết cũng như duy trì số tiền đó xuyên suốt thời gian cư trú có điều kiện hay không?) Nội dung sau đây (ĐƯỜNG DẪN) được Quản lý vùng đưa trực tiếp tới USCIS khi họ trao đổi về việc phê chuẩn đơn I-829. Quý vị có thể thấy rằng “A-C” xử lý vấn đề đã đầu tư đầy đủ và duy trì khoản đầu tư trong thời gian cư trú có điều kiện còn “D” dùng để chỉ vấn đề tạo việc làm. Nói đơn giản, nhà đầu tư phải có khả năng cho thấy toàn bộ số vốn góp của họ đều có rủi ro và đã có mười việc làm được tạo ra như yêu cầu. Khả năng chứng minh các yêu cầu này của các Trung tâm khu vực là khác nhau. CMB có thể cho thấy việc làm được tạo ra như thể nào vào thời điểm đơn I-526 được xem xét. Trung tâm khu vực nào sử dụng việc làm Trực tiếp làm một phần trong số những việc làm công bố là đã tạo thì sẽ không thể chứng minh là đã tạo ra chúng cho đến khi từng đơn I-829 thực tế được xem xét. Nhà đầu tư CMB biết rằng ngay khi tiền được chi tiêu, thì có việc làm được tạo ra. Điều này loại bỏ sự băn khoăn gặp phải khi dùng cách tạo việc làm trực tiếp.

Các khoản đầu tư CMB chỉ dựa vào cách tạo việc làm gián tiếp và CMB yêu cầu số đồng đô la đáng kể từ bên ngoài cho mỗi đồng đô la CMB đang đầu tư. Mỗi nhà đầu tư tiềm năng nên cân nhắc “viễn cảnh xấu nhất” của mỗi khoản đầu tư mà họ đang tính toán. Trung tâm khu vực nào cũng nên có câu trả lời cho câu hỏi khó khăn này. Danh sách đính kèm nêu các câu hỏi nên hỏi các Trung tâm khu vực, với sự suy xét cẩn trọng, và nhà đầu tư nên yêu cầu Trung tâm khu vực chứng minh những gì họ nói.

  1. Khả năng nhà đầu tư được hoàn trả căn bản khoản đầu tư gốc của mình là ra sao?

Khoản đầu tư CMB được thực hiện với cơ quan chính phủ, đơn vị xây dựng cơ sở chính, hợp danh tư nhân/tập thể hoặc đơn vị phát triển của các công ty nổi tiếng, trong đó, mỗi thực thể đều đã xác định một số nguồn doanh thu làm căn cứ để hoàn trả khoản đầu tư của chúng tôi. Khoản đầu tư EB-5 cần phải là đầu tư “có rủi ro”. Không Trung tâm khu vực nào được phép đảm bảo hoàn trả vốn của nhà đầu tư. USCIS đã quy định rất rõ ràng về vấn đề này; vốn đầu tư phải có rủi ro. Mặt khác, không có yêu cầu nào nói rằng phải bỏ vốn ra đầu tư một cách bất cẩn. CMB xây dựng các khoản đầu tư tuân thủ các nguyên tắc và hướng dẫn của USCIS và cũng mang lại cho nhà đầu tư khả năng được hoàn trả đầy đủ vốn góp rất cao. Khoản đầu tư CMB có dạng đầu tư cơ sở hạ tầng dựa trên khoản cho vay, với nhiều mức doanh thu và/hoặc thế chấp đảm bảo. Trong dạng đầu tư dựa trên khoản cho vay, không cần phải bán thứ gì cả. Còn dạng đầu tư dựa trên vốn sở hữu thì cần lo về xu hướng thị trường và sự ảnh hưởng của một số phân vùng kinh tế đối với “Giá trị thị trường hợp lý” của lợi nhuận sở hữu của họ.

Chúng tôi không thể đảm bảo rằng tiền vốn của nhà đầu tư an toàn 100% nhưng có thể nói chúng tôi tin rằng cơ cấu đầu tư CMB có mức rủi ro thấp và khả năng cao đối với những việc như: nhà đầu tư được cấp Thẻ xanh, bảo tồn phần vốn góp ban đầu và thu được một chút lợi nhuận đầu tư cho nhà đầu tư. Xin vui lòng tham khảo Câu hỏi # 3 (Đâu là rủi ro?)

  1. Khả năng nhà đầu tư thu được lợi nhuận từ khoản đầu tư này ra sao?

Chúng tôi đặt ra giới hạn chi phí hàng ngày trong các khoản đầu tư để lãi suất áp dụng với đối tượng đầu tư đạt tối thiểu một phần trăm cao hơn giới hạn chi phí hàng ngày, do đó, lợi nhuận đầu tư dự tính là 1% mỗi năm cho hợp danh. – Xin vui lòng tham khảo Câu hỏi # 5 (Khoản đầu tư EB-5 của tôi an toàn thế nào?)

  1. Nếu khoản đầu tư bị mất thì sao? Nhà đầu tư có mất thị thực luôn không?

Đây là một trong nhiều câu hỏi mà tất cả các Trung tâm khu vực nên trả lời và mọi nhà đầu tư tiềm năng đều băn khoăn. Trung tâm khu vực nào cũng nên giải đáp được câu hỏi này vì đây là điều mà họ cần phải cân nhắc sẵn. “Viễn cảnh xấu nhất” là gì và điều gì sẽ xảy ra với khoản đầu tư cũng như với hi vọng theo đuổi quyền di trú của đối tác hữu hạn đã đầu tư khoản đó nếu “viễn cảnh xấu nhất” trở thành sự thật.

Ở đây có hai mối quan tâm cần được đề cập, là đầu tư và di trú. Hầu hết, nếu không nói là tất cả, các khoản đầu tư Trung tâm khu vực khác đều được xây dựng khác với khoản đầu tư CMB. Để trả lời các câu hỏi trên, chúng ta hãy cùng nhìn vào viễn cảnh tồi tệ nhất khi mà khoản đầu tư không còn tồn tại và Trung tâm khu vực cũng vậy.

Dựa trên vốn sở hữu, không phải CMB (hoàn trả vốn đầu tư EB-5): Nếu mục tiêu đầu tư và Trung tâm khu vực không còn tồn tại trước khi I-829 được xem xét thì cực kỳ khó có khả năng nhà đầu tư có thể thu hồi lại bất kỳ phần nào trong số tiền mà họ đã đầu tư. Nếu mục tiêu đầu tư ngừng hoạt động thì có thể không còn nguồn thu nhập để tìm kiếm khoản tiền hoàn trả. Mục tiêu đầu tư có thể sỡ hữu một số tài sản cố định, những tài sản này có thể được dùng để thu chút tiền hoàn trả nhưng sẽ cần phải xác định xem nhà đầu tư EB-5 có thứ tự ưu tiên thế nào so với tất cả những chủ nợ khác khi và nếu có tiền để chia.

Dựa trên vốn sở hữu, không phải CMB (khả năng có thị thực di trú): Phương pháp tạo việc làm là hết sức quan trọng. Có nhiều việc làm trực tiếp và gián tiếp được công bố ở nhiều khoản đầu tư Trung tâm khu vực khác nhau. Nếu công bố việc làm trực tiếp nhưng lại thất bại trước khi xem xét I-819, thì có khả năng sẽ mất tất cả việc làm trong viễn cảnh xấu nhất. Nếu mục tiêu đầu tư và Trung tâm khu vực không còn tồn tại thì nhà đầu tư tìm đâu bằng chứng về việc làm, bất kể là trực tiếp hay gián tiếp. Việc làm trực tiếp cũng sẽ bị mất như những việc làm gián tiếp được ước tính dựa trên cách tạo việc làm trực tiếp. Trong viễn cảnh xấu nhất này, nhà đầu tư tổn thất toàn bộ tiền và mất cả hi vọng có được thẻ xanh thường trú.

Dựa trên khoản cho vay, CMB (hoàn trả vốn đầu tư): khoản đầu tư hạ tầng CMB được thực hiện với các cơ quan chính phủ, đơn vị phát triển cơ sở chính, hợp danh tư nhân/tập thể, và các công ty tư nhân, với tất cả các trường hợp, CMB đã vạch ra những khoản đảm bảo từ nhiều nguồn để hoàn trả khoản cho vay ngay cả khi quá hạn chưa thanh toán được. Trong viễn cảnh đang đề cập, CMB và mục tiêu đầu tư không còn tồn tại. Trước tiên chúng ta sẽ xét đến cơ quan chính phủ. Tôi không rõ làm thế nào mà cơ quan chính phú có thể không còn tồn tại nhưng nếu xảy ra như vậy thì sẽ có cơ quan khác thế chỗ quản lý khu vực đó. Hạt hoặc tiểu bang sẽ bước vào vì chủ nhà ở tư nhân và các doanh nghiệp vẫn phải trả thuế cho tài sản của họ. Những dòng doanh thu như vậy sẽ không bao giờ ngừng lại. Ngoài ra, tài sản của cơ quan chính phủ sẽ vẫn tồn tại bao gồm cả tài sản cho thuê thuộc dạng có sinh thu nhập. Thỏa thuận cho vay mà chúng tôi thực hiện với các bên vay xác định nhiều nguồn hoàn trả khác nhau ngoài tài sản cố định, do đó nhà đầu tư của chúng tôi có nhiều cách tìm kiếm tiền hoàn trả. Các đơn vị chính phủ địa phương không thể giải phóng nợ, nhưng trong phá sản thì có thể tái cấu trúc nợ. Điều này cho phép hoàn trả tiền gốc mặc dù có thể lâu hơn dự kiến. Các cá nhân và doanh nghiệp có thể giải phóng nợ khi phá sản nhưng thành phố, hạt và chính quyền nằm quyền lực kết hợp thì không thể.

Trong trường hợp công ty tư nhân, CMB xây dựng một số biện pháp an toàn trong giấy tờ ký với họ. Đầu tiên là nhiều dự án xây dựng sẽ cần phải có cam kết hoàn thành; cam kết hoàn thành hoặc khế ước hoàn thành cho phép triển khai thi công dự án và sử dụng tiền. Chúng tôi cũng có cam kết bằng tài sản thế chấp, cam kết tập thể, thỏa thuận cho vay liên đới và các dạng cam kết khác. Cuối cùng, chúng tôi sẽ sở hữu thứ gì đó, không giống nhau theo mỗi dự án.

Để đảm bảo công bằng, mặc dù khoản đầu tư CMB được xây dựng khác các khoản đầu tư Trung tâm khu vực khác mà chúng tôi biết; haỹ giả sử toàn bộ tiền đều bị tổn thất. Lúc này chúng ta cần xem xét lợi ích về di trú (thẻ xanh). Đối với đơn vị phát triển cơ sở chính, khoản đầu tư CMB sẽ đầu tư công tác nâng cấp cơ sở hạ tầng bao gồm việc nâng cấp đường công cộng và quyền lưu thông. Ở California, quỹ công cộng có thể được dùng để đảm bảo cho công tác nâng cấp do một công ty tư nhân thực hiện tại Khu vực hỗ trợ cộng đồng. Trong ba khoản đầu tư đầu tiên của chúng tôi với McClellan Park, khoản đảm bảo nguồn hoàn trả là cam kết Mello-Roos. Khoản đảm bảo hoàn trả đến từ cấp hạt, là hạt Sacramento.

Tóm lại, khoản đầu tư theo cơ cấu của CMB vẫn có thể có nợ không trả quá hạn, tuy nhiên rất khó có khả năng tổn thất toàn bộ tiền vốn đầu tư.

CMB (khả năng có thị thực di trú): Khoản đầu tư CMB chỉ dựa vào việc làm gián tiếp và những việc làm gián tiếp này được chứng minh bằng các phương pháp hợp lý, không như việc làm trực tiếp cần mẫu đơn chính phủ loại W-2, I-9 và giấy tờ công dân cho mỗi nhà đầu tư. Ngoài ra, khoản đầu tư CMB có thể chứng minh, vào thời điểm xem xét đơn I-526 của nhà đầu tư, rằng đã có những việc làm gián tiếp được tạo ra khi tiền được sử dụng. Bằng cách này, nếu mục tiêu đầu tư không còn tồn tại và CMB cũng vậy, thì nhà đầu tư và luật sư của họ có chứng từ báo cáo chi tiết phương pháp và thời gian việc làm gián tiếp được tạo ra. Cam kết hoàn thành tập thể sẽ đảm bảo tiền được sử dụng. Ngoài ra, chính phủ, bất kể là chính phủ nào, sẽ có hồ sơ công khai cho thấy tiền đã được sử dụng và sử dụng vào việc gì. Những việc làm gián tiếp mà nhà đầu tư CMB cần đều có thể được chứng minh trong tình huống tồi tệ nhất của “viễn cảnh xấu nhất”

Theo những nội dung nêu tại đây, kết luận rút ra là ngay cả trong viễn cảnh xấu nhất, khi mất toàn bộ khoản đầu tư, nếu tiền được sử dụng, dự án hoàn tất nhưng phá sản, thì nhà đầu tư vẫn sẽ nhận được thị thực vĩnh viễn vì khi sử dụng tiền thì sẽ tạo ra việc làm.

  1. Có quốc gia nào bị loại trừ không áp dụng chương trình Thị thực EB-5 hay không?

Chỉ có cư dân của một số quốc gia bị loại trừ (ví dụ, Bắc Triều Tiên và một số quốc gia khác.) Tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp, nếu ứng viên có thể rời quốc gia bị loại trừ đó và có số vốn cần thiết để thỏa mãn tiêu chuẩn của chương trình, thì cố vấn pháp lý sẽ có thể giúp ứng viên đáp ứng yêu cầu phê chuẩn thị thực. Hãy nhờ luật sư di trú của quý vị tư vấn để biết quốc gia của quý vị có bị loại trừ khỏi chương trình thị thực này không.

  1. Yếu tố nào có thể khiến nhà đầu tư EB-5 tiềm năng không đủ tiêu chuẩn tham gia?

/Theo pháp luật, có rất ít trường hợp loại trừ hoặc hủy tư cách. Nếu lý lịch tư pháp có ghi nhận tội danh liên quan tới đạo đức xã hội thì ứng viên sẽ hủy tư cách, trừ khi có thể chứng minh tội đó có tính chính trị về bản chất hoặc xảy ra hơn hai mươi năm trước khi đăng ký. Một số vấn đề y tế cũng có thể loại trừ ứng viên, nhưng có thể tránh phần lớn những trường hợp như vậy nếu chứng minh được ứng viên có người khác giúp đỡ và không cần chính phủ hỗ trợ y tế. Ứng viên nên nhờ cố vấn pháp lý về di trú tư vấn để xác định có những dạng hủy tiêu tư cách nào khiến họ không thể tham gia chương trình.

  1. Tôi có thể đăng ký tham gia nếu hiện tại không có tình trạng thường trú (như là, sống ở Hoa Kỳ, nhưng không có thị thực) hay không?

Cư dân không có tình trạng thường trú không còn được đăng ký thường trú nhân từ trong lãnh thổ Hoa Kỳ. “Không có tình trạng thường trú” nghĩa là cá nhân ở lại Hoa Kỳ lâu hơn thời gian cho phép ở lại. Thị thực cần có hiệu lực trong thời gian ở Hoa Kỳ nhưng mẫu I-94 có thể được gia hạn nếu cá nhân đó cần ở lại lâu hơn thời gian của I-94. Tuy nhiên, nếu họ đã gửi đơn đăng ký hoặc yêu cầu nào đó xin cấp Thẻ xanh, như yêu cầu di trú (bằng con đường công việc hoặc gia đình) hoặc giấy chứng nhận lao động trong thời gian phúc lợi 245(i) trước 17 tháng 1 năm 1998 hoặc 30 tháng 4 năm 2001, thì họ có thể gửi đơn điều chỉnh tình trạng thường trú tại Hoa Kỳ với tiền phạt 1.000 đô la Mỹ, áp dụng cho ứng viên trên 17 tuổi.

Nếu cư dân không có tình trạng thường trú không có hồ sơ 245(i), họ phải về quốc gia gốc và đăng ký qua Đại sứ quán Hoa Kỳ ở đó. Tuy nhiên, tùy theo thời gian không có tình trạng thường trú, họ có thể bị cấm không cho nhận thị thực Hoa Kỳ cũng như không được vào Hoa Kỳ trong khoảng thời gian nhất định tính từ ngày rời đi. Ứng viên nên nhờ đơn vị cố vấn pháp lý về di trú tư vấn thêm về vấn đề này.

  1. Cần có thông tin và chứng từ gì để thực hiện đầu tư EB-5?

Ứng viên thị thực EB-5 tiềm năng phải chuẩn bị thông tin tiểu sử đầy đủ cho người đứng đầu và mỗi thành viên hợp lệ trong gia đình. Ứng viên đứng đầu phải chứng minh nguồn cung cấp vốn đầu tư. Nên gửi kèm sơ yếu lý lịch và bản sao bằng đại học và các chứng chỉ giáo dục khác, nếu có. Giấy phép kinh doanh, brochure về doanh nghiệp và các thông tin khác về công việc kinh doanh của ứng viên cũng sẽ có giá trị. Cũng nên có chứng từ về quyền hội viên trong các tổ chức chuyên môn. Trừ khi vốn là do nhà đầu tư thừa kế mà có, nhà đầu tư nên thể hiện mình là một chuyên viên thành công hoặc doanh nhân với lịch sử gia đình, tài chính hoặc kinh doanh diễn giải được quá trình tích lũy giá trị tài chính thực tế được nêu trong các thông tin tài chính. Hãy cung cấp tài liệu về sự nghiệp và thành tích của Nhà đầu tư đứng đầu càng nhiều càng tốt. Nguồn cung cấp vốn đầu tư: Vốn dùng để đầu tư phải xuất phát từ nguồn hợp pháp. Các nguồn cung cấp vốn đầu tư hợp pháp bao gồm: lợi nhuận từ việc bán tài sản, cổ phiếu hoặc trái phiếu, lợi nhuận từ kinh doanh, giao dịch kinh doanh, quà tặng, và thừa kế. Để chứng minh cho nguồn cung cấp vốn đầu tư, USCIS điển hình thường yêu cầu tờ khai thuế năm năm, hồ sơ ngân hàng năm năm, chứng từ chứng minh quyền sở hữu đối với các doanh nghiệp, báo cáo tài chính đối với từng doanh nghiệp và giấy phép kinh doanh. Quan điểm chính ở đay là phải cung cấp hồ sơ thể hiện quá trình làm việc chân thật. Nếu nguồn vốn đầu tư EB-5 của ứng viên đứng đầu đến từ giao dịch cụ thể nào đó, như là do bán nhà, thừa kế hoặc quà tặng, thì cần chứng minh giao dịch đã diễn ra, bằng cách cung cấp tài liệu chính quy, như tuyên bố kết thúc hoặc hợp đồng hoặc các chứng từ chính quy khác. Trên đây không phải là danh sách hoàn chỉnh. Có thể cần có các tài liệu khác và tùy theo từng trường hợp.

  1. Cần lưu ý những gì để giám sát công tác tạo việc làm của trung tâm khu vực?

Các trung tâm khu vực rất khác nhau; tuy nhiên, đây là câu hỏi quan trọng, nên hỏi. Khoản đầu tư CMB chỉ liên quan tới cách tạo việc làm gián tiếp và chúng tôi đã chứng minh trong từng khoản đầu tư mà USCIS xem xét, (trên 1600 lần) rằng việc làm gián tiếp được tạo ra khi tiền được sử dụng. Mỗi dự án cá nhân trong một khoản đầu tư đều có khung thời gian hoàn thành. Các khung thời gian nằm trong khoảng thời gian tạo việc làm mà USCIS yêu cầu. Một số dự án của chúng tôi có thỏa thuận kiểm soát quỹ, trong đó quỹ được kiểmm soát và giải phóng khi cần phải thanh toán hóa đơn nào đó. Ngoài ra, chúng tôi định kỳ ghé thăm từng khu đầu tư và thu thập báo cáo thường kỳ từ từng bên vay, các báo cáo này sau đó được đăng lên mục riêng về từng nhà đầu tư trên trang web. Trong thỏa thuận cho vay, CMB quy định việc không thể cung cấp tài liệu chi tiêu là không trả nợ quá hạn.

  1. Cần thực hiện những bước nào nếu không thể tạo ra việc làm như yêu cầu?

Nếu một trung tâm khu vực không thể chứng minh việc làm đã được tạo ra, thì nhà đầu tư EB-5 bị đưa vào thủ tục loại bỏ. Với CMB, theo mô hình kinh tế IMPLAN, khoản đầu tư CMB chỉ cần chứng minh tiền đã được sử dụng, khi đó việc làm gián tiếp đã được tạo ra. CMB thu thập tất cả ghi chép chi tiêu trong một dự án và lập bản báo cáo việc làm mới dựa trên chi tiêu thực tế. Đây là bằng chứng thực nghiệm cho thấy thực sự có việc làm được tạo ra. Như đã nêu ở Câu hỏi 4, chúng tôi giám sát mọi dự án và giữ tài liệu của các dự án đã hoàn tất.

  1. Đầu tư vào Trung tâm khu vực bao gồm việc tạo việc làm trực tiếp hay gián tiếp hay cả hai?

Ở những phần khác trên trang web, chúng tôi nêu những nguy hiểm khi sử dụng việc làm trực tiếp. Nhà đầu tư đang mạo hiểm khi dùng cách đó, vì có thể bị ảnh hưởng từ nhiều thứ. Khoản đầu tư CMB tạo cả việc làm trực tiếp và gián tiếp; nhưng chúng tôi chỉ công bố việc làm gián tiếp tạo ra từ khoản đầu tư vốn kết hợp lớn bằng cách sử dụng công cụ đo lường kinh tế IMPLAN tiêu chuẩn. Đây là đặc tính mấu chốt của mọi khoản đầu tư CMB. Tuy nhiên, trong nhiều kế hoạch kinh doanh, chúng tôi bảo lưu quyền được công bố việc làm trực tiếp bất kỳ dựa trên việc làm theo giai đoạn vận hành bất kỳ cũng như việc làm sinh ra từ doanh thu để đảm bảo có nhiều việc làm “bổ sung” cho nhà đầu tư.

39.nếu đơn I-526 của tôi được USCIS phê chuẩn nhưng sau đó bị từ chối khi phòng vẫn Lãnh sự?

Chúng tôi xây dựng giải pháp cho vấn đề này trong mỗi thỏa thuận hợp danh. CMB có điều khoản gọi là nhà đầu tư thay thế. Trong trường hợp từ chối như trên, chúng tôi có thể thay thế người đó với người sẽ tham gia hợp danh tiếp theo. Phương pháp này được USCIS chấp nhận và chúng tôi có nội dung trong thỏa thuận hợp danh nói rõ về tình huống này. Điều quan trọng cần nhớ ở đây là mọi sự từ chối ở đây sẽ là từ chối cá nhân chứ không phải từ chối khoản đầu tư. Khoản đầu tư đã được xem xét và phê chuẩn ở giai đoạn I-526. Việc tìm nhà đầu tư thay thế trong một dự án đã được phê chuẩn được thực tế chứng minh là khá đơn giản. Tuy nhiên, nếu ứng viên chậm trễ trong việc gửi hồ sơ đăng ký đơn I-526 và kéo dài quy trình phỏng vấn quá mức thì có khả năng không thể tìm được nhà đầu tư thay thế.

  1. Các luật sư di trú nào đại diện cho các Trung tâm khu vực CMB?

CMB có bốn luật sư nội bộ và sử dụng luật sư cố vấn từ bên ngoài để giúp soạn thảo tài liệu hợp danh. Nhóm các cố vấn này bao gồm các luật sư kinh doanh, không phải luật sư di trú. CMB yêu cầu mỗi nhà đầu tư chọn luật sư di trú cho riêng mình. Bằng cách này, nhà đầu tư có thể yên tâm rằng luật sư của họ sẽ thận trọng vì lợi ích của nhà đầu tư. Luật sư di trú đại diện cho khách hàng và Trung tâm di trú có mâu thuẫn về lợi ích. LƯU Ý: Nếu Trung tâm khu vực ủy thác luật sư nội bộ của họ đại diện cho nhà đầu tư trong nước từ nước ngoài ở Trung tâm khu vực đó gửi hồ sơ đăng ký di trú tới USCIS thì điều này sẽ là mâu thuẫn lớn và có thể dẫn đến kết quả không tốt cho nhà đầu tư. Cách làm này là yếu tố trung tâm gây ra sự đóng cửa chương trình EB-5 vào cuối những năm 1990. Câu hỏi đặt ra là, luật sư đại diện cho khách hàng nào – nhà đầu tư EB-5 hay trung tâm khu vực?

  1. Trung tâm khu vực CMB trực tiếp liên lạc với cư dân người nước ngoài, hay là có thể ủy thác cho luật sư thực hiện tất cả liên lạc với cư dân người nước ngoài?

Cư dân người nước ngoài có thể trực tiếp liên lạc với CMB và chúng tôi sẽ cung cấp nhiều thông tin nhất có thể, tuy nhiên, CMB khuyến khích nhà đầu tư sử dụng luật sư di trú riêng. Chúng tôi sẽ phối hợp với luật sư di trú của quý vị. Khi nhà đầu tư đã chọn CMB và trở thành đối tác hữu hạn của CMB thì CMB sẽ chủ động liên lạc và khuyến khích liên lạc. CMB đã làm việc với luật sư từ khắp nơi trên thế giới.

  1. Từ trước đến giờ, tỉ suất lợi nhuận thu được từ đầu tư?

Theo CMB, đây không hẳn là một chương trình đầu tư, mà là chương trình tạo việc làm. Câu hỏi chính của mỗi “nhà đầu tư” EB-5 không nên là tôi sẽ kiếm được bao nhiêu tiền, mà là liệu có tạo đủ việc làm để tôi đủ tiêu chuẩn nhận thị thực vĩnh viễn hay không. Với CMB, tỉ suất lợi nhuận trung bình là 1% mỗi năm cho hợp danh. Khoản đầu tư EB-5 CMB tập trung giúp nhà đầu tư có Thẻ xanh và giữ vốn đầu tư ban đầu của nhà đầu tư để mang lại khoản hoàn trả vốn đầu tư khi khoản đầu tư EB-5 hoàn tất. Chúng tôi cũng cung cấp khoản lợi nhuận đầu tư nhỏ cho nhà đầu tư ,nhưng hai mục tiêu đầu mới là trọng tâm.

  1. Nếu tôi muốn tự quản lý doanh nghiệp?

Nếu quý vị muốn tự quản lý doanh nghiệp thì hãy cân nhắc Thị thực L-1 (Chuyển nhượng nội bộ công ty không di trú), Thị thực E2 (Đầu tư hiệp ước thương mại không di trú), hoặc Đầu tư dành cho doanh nhân người nước ngoài EB-5 bằng cách đầu tư 1.000.000 đô la Mỹ vào doanh nghiệp mà quý vị kiểm soát, và tạo ra mười việc làm trực tiếp trong doanh nghiệp mới. Nếu mục tiêu của quý vị là có Thẻ xanh chứ không phải quản lý doanh nghiệp, thì việc sử dụng chương trình đầu tư có cấu trúc như Trung tâm khu vực trong EB-5 thường rẻ hơn và/hoặc tiện lợi và khả quan hơn, rủi ro cũng ít hơn đáng kể so với tự mình xây dựng và điều hành doanh nghiệp. Ngoài ra, EB-5 trở nên vĩnh viễn trong khi L-1, E2 và các dạng khác thì không và con cái có thể phải rời đi ở tuổi 21.

  1. Tôi có thể tham khảo các điều luật và quy định có liên quan đến EB-5 ở nguồn nào?

Xin vui lòng ghé thăm trang web của Cơ quan Di trú và Nhập tịch Hoa Kỳ. Đường dẫn tới thông tin thị thực đầu tư di trú có ở địa chỉ sau đây www.uscis.gov. Quý vị sẽ thấy đường dẫn tới “Laws” [“Luật”] ở gần chính giữa phía trên cùng của trang chủ USCIS.